Chứng Tá Niềm Hy Vọng Phục Sinh (Lễ Vọng Phục Sinh – Năm A)

22 lượt xem

LỄ VỌNG PHỤC SINH – NĂM A

Lời Chúa: Mt 28, 1-10

Chủ đề: CHỨNG TÁ NIỀM HY VỌNG PHỤC SINH

Lm. Phêrô Mai Đông Đăng, OFM

Khép lại hành trình ba năm rao giảng Tin Mừng với biết bao thăng trầm. Cuối cùng, điều mà Đức Giêsu nhận được là một bản án bất công, những tiếng la ó, những lời nhục mạ chê bai, những trận đòn chí mạng, những lê bước miệt nhoài, những tiếng búa chát chúa làm xuyên thấu tay chân bằng những chiếc đinh dài và nhọn, tiếng hấp hối thảng thốt, cô đơn và tắt thở trong cơn im lặng đáng sợ của nhân loại, thêm vào đó là một nhát đòng đâm thấu con tim. Và thế là vào một buổi chiều thứ Sáu thảm sầu, một tử thi đã được chôn cất vội vã. Đức Giêsu đã chết! Được an táng trong một ngôi mộ đá mượn của người khác. Sau tất cả, khi tảng đá lấp cửa mồ đóng lại, Ngài đã nghỉ yên với cái mà thiên hạ vẫn gọi là ‘mồ yên mả đẹp’, hưởng dương 33 tuổi.

Câu chuyện tưởng đã được an bài với phần thắng dành cho những kẻ ghét Ngài, nhưng mọi thứ đã đảo chiều. Đức Giêsu đã không ngủ yên. Ngài đã chỗi dậy và ra khỏi mồ. Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe thuật lại việc bà Maria Macđala và một bà khác cũng tên là Maria ra viếng xác vào chiều ngày thứ nhất trong tuần (Mt 28,1), nghĩa là họ đến để tưởng nhớ về những điều họ đã từng có với Người, mà nay đã vĩnh viễn vuột mất. Viếng xác mà chẳng còn xác để viếng. Họ còn gặp cảnh kinh thiên động địa. Nhưng khi chưa hoàn hồn với cảnh tượng trước mắt, các bà được an ủi bằng câu nói: “Này các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng chịu đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như người đã nói.” (Mt 28, 5-6). Các bà được gợi ý quay về miền ký ức để nhớ lại những điều đã được chính Đức Giêsu nói trước đó về sự phục sinh của Người. Chị em phụ nữ đã tin, họ còn nhanh chân về báo cho các môn đệ biết.

Dấu chứng rõ ràng nhất lúc này là chính Đức Giêsu phục sinh đón gặp các bà và nói: “Chào chị em! Các bà còn được tới gần và ôm lấy chân Đức Giêsu. (Mt 28,9). Nếu như thân xác Chúa Giêsu lúc này còn nằm trong ngôi mộ. Nếu như tảng đá lấp cửa mộ vẫn được đậy kín, thì Chúa Giêsu cũng chỉ như một vĩ nhân, khi còn sống thì rao giảng những điều uyên bác cao siêu, nhưng khi chết thì cũng giống như bao người khác. Nhưng không phải thế, Chúa Giêsu không còn ở đây, người đã trỗi dậy, đến điểm hẹn Galilê để gặp các môn đệ của mình. Đức Giêsu đã sống lại. Người không còn bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Người không bị giam cầm bởi sự chết cũng như bởi nấm mộ.

Đối với người vô thần, thì ngôi mộ với ba tấc đất là điểm tận cùng của một kiếp người và là nơi ở muôn đời muôn kiếp. Nơi đây kẻ thường dân cũng như hàng quyền quý; bậc vua chúa cũng như hàng lê thứ; khanh tướng công hầu hay thủ lãnh trần gian; nam thanh hay nữ tú; bô lão hay nhi đồng cũng như nhau, đều được chôn vùi, mục nát với thời gian và trở thành cát bụi. Theo quan điểm này, ngôi mộ là điểm tận cùng của kiếp người, là dấu chấm hết cho tất cả.

Trăm năm còn có gì đâu?

Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”. (Nguyễn Du)

Với những người có đức tin thì không phải như vậy. Chúa Kitô đã để lại tất cả những gì thuộc về thế giới kẻ chết. Ngài đã ra khỏi mộ và không trở lại. Sự kiện Đức Giêsu phục sinh là đỉnh cao của đức tin Kitô giáo. Chính vì vậy, biến cố này đã trở thành niềm tin và sức sống mãnh liệt cho nhân loại trong suốt chiều dài lịch sử cứu độ. Hàng tỷ người đã sống với niềm tin này, và hàng triệu triệu người đã dám chết để bảo vệ chân lý ấy. Vì thế, Lễ Phục sinh không phải một sự kiện giải trí. Đó cũng không phải là một câu chuyện mang tính huyền thoại. Cho nên thánh Phaolô mới dám nói rằng: nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì đức tin của chúng ta trở nên trống rỗng, hão huyền và chúng ta trở nên những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. (x. 1Cr 15, 12-19). Người tín hữu mừng lễ phục sinh là để nhắc nhở bản thân phải canh tân đổi mới cuộc đời để sống lại với Chúa. Ngôi mộ trống nhắc chúng ta về thái độ dứt khoát với quá khứ, một quá khứ với những đam mê và tội lỗi. Với ánh sáng trong đêm thánh vọng Phục Sinh, Giáo Hội mời gọi chúng ta lặp lại lời hứa của ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Với bí tích Rửa Tội, chúng ta đã được mai táng với Đức Kitô, để rồi được phục sinh trong sự sống mới của Ngài như lời Thánh Phaolô dạy: “Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Ngài” (Rm 6,8). Mai táng với Đức Kitô có nghĩa là chôn vùi con người cũ tội lỗi của chúng ta, là từ bỏ tất cả những gì lôi kéo chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa.

Trong đêm thánh diệu huyền này, câu hỏi được đặt ra là: Sự kiện Phục Sinh có nghĩa gì trong đời sống đức tin của mỗi chúng ta? Chúa đã phục sinh, đã ra khỏi mộ, còn tôi, tôi có đang đắp mộ cuộc đời? Thung lũng và bóng đêm nào đang ghì chặt tôi? Tấm vải và chiếc khăn nào đang bó buộc cuộc đời tôi? Đừng tự chôn mình trong nấm mộ của tội lỗi; đừng chôn mình trong thế giới ảo với những thứ đạo lý sai lạc; đừng từ chôn mình trong sự hận thù đến nỗi không thể tha thứ cho người khác; đừng tự chôn mình trong nấm mộ của những ích kỷ hẹp hòi; của sự dửng dưng và vô cảm, của hoài nghi và nửa vời. Hãy trỗi dậy, hãy kết nối với Đấng đã phục sinh. Cánh cửa mộ trống năm xưa đã bật tung nhắc chúng ta hãy mở tung cánh cửa tâm hồn để lấp đầy tình yêu và niềm tin của Đấng Phục Sinh. Chúng ta đừng để thất bại, khổ đau, yếu đuối, muộn phiền, chia ly và chết chóc niêm phong chúng ta lại. Không nên để những lợi lộc riêng tư, những toan tính ích kỷ, những thói hư tật xấu,… như phiến đá che lấp Tình Yêu và sự giải thoát.

Năm nay, chủ đề mục vụ của Giáo Hội tại Việt Nam chúng ta là: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai. Thừa sai là gì nếu không phải là nói cho người khác biết về Niềm Hy Vọng Phục Sinh? Để làm được điều đó, chúng ta hãy bước ra khỏi “ngôi mộ đóng kín” của chính mình nơi đó chất chứa những sợ hãi, những an toàn giả tạo, những thói quen cũ kỹ… để lên đường. Khi mỗi Kitô hữu ý thức mình là một môn đệ thừa sai, thì Giáo Hội không chỉ hiện diện trong khuôn viên nhà thờ, nhưng hiện diện tới những vùng ngoại biên của cuộc sống. Bởi vì, thế giới hôm nay không cần thêm những lời giải thích về hy vọng, nhưng cần những con người đang sống xác tín vào Niềm Hy Vọng Phục Sinh của Đức Kitô. Và đó chính là cách rao giảng Tin Mừng Phục Sinh đẹp nhất như lời của thánh tông đồ Phêrô căn dặn: “Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.” (1Pr 3, 15). Nguyện xin Đức Kitô Phục Sinh biến đổi chúng ta thành những con người của Niềm Hy Vọng. Amen.