PHẦN MỘT – LƯỢC ĐỒ TỔNG QUÁT THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS

PHẦN HẢI – GIỚI THIỆU MỘT SỐ CHỦ ĐỀ

I. Magnifica Humanitas và Học thuyết xã hội của Hội thánh Công giáo

1. Mối liên hệ giữa thông điệp Magnifica Humanitas và Học thuyết xã hội

2. Học thuyết xã hội phát hiện từ sự gặp gỡ giữa chân vĩnh viễn và những vấn đề trong lịch sử nhân loại

3. Sau khi nhắc lại lịch sử kép, Magnifica Humanitas trình bày những nguyên tắc của Học thuyết xã hội

4. ba gợi ý suy nghĩ

II. Magnifica Humanitas và Nhân học

1. Nền tảng của Học thuyết xã hội là Nhân học Giáo dục

2. Magnifica Humanitas cũng nằm trong hướng này

3. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo có thực sự thăng tiến sản phẩm giá con người không?

III. Magnifica Humanitas và Trí tuệ nhân tạo

1. Trí tuệ con người và trí tuệ nhân tạo

2. Magnifica Humanitas và Trí tuệ nhân tạo

3. Đề xuất một chế độ

IV. Magnifica Humanitas và Mạng xã hội

1. Những mối nguy hiểm của mạng xã hội & trí tuệ nhân tạo

2. Đề xuất một thái độ đúng đắn cho mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo

3. Vai trò của mọi thành phần

kết luận

1. Hai hình ảnh Kinh thánh trong Magnifica Humanitas: Tháp Babel và Xây dựng lại Tường thành Jerusalem

2. Thái độ đúng đắn đối với cách kỹ thuật số: xây dựng tường thành Jerusalem thay vì xây dựng tháp Babel

Dẫn Nhập

Thông điệp được chuẩn bị công cộng với sự đóng góp của nhiều chuyên gia thần học cũng như công nghệ, vì thế nội dung rất phong phú, không thể khai thác hết chỉ trong hai giờ. Đồng thời, cử tọa ở đây là thành viên của Ban truyền thông, vì thế xin giới hạn bài nói chuyện ở hai điều: (1) Lược đồ thông điệp; (2) Giới thiệu một số chủ đề liên quan đến truyền thông. Vì chưa có bản dịch tiếng Việt chính thức của Hội đồng Giám mục nên xin gọi tên thông điệp bằng tiếng La tinh.

PHẦN MỘT – LƯỢC ĐỒ TỔNG QUÁT THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS

Đầu vào: Hai hình ảnh trong Kinh thánh, hướng dẫn xây dựng công cụ hữu ích và giá sản phẩm cho người dùng.

Chương một: Tiếp cận cách trung thành và năng động

Hội thánh bước đi trong lịch sử nhân loại: Sự khôn ngoan của Lời Chúa đối thoại với các khoa học nhân văn; Học xã hội như phân tích được chia sẻ.

Sự phát triển của Học thuyết xã hội từ Đức Lêô XIII đến nay: Những giai đoạn đầu tiên của Học thuyết xã hội; Những năm sau Vatican II; Huấn luyện quyền gần đây; Giải thích lịch sử trong ánh sáng đức tin.

Chương hai: Nền tảng và nguyên tắc của Học thuyết xã hội Hội thánh.

Nền tảng của Học thuyết xã hội: Con người là hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi; Bình đẳng về giá sản phẩm; Giá trị tối cao của nhân quyền.

Các nguyên tắc của Học thuyết xã hội: Công ích; Mục tiêu phổ biến của tài nguyên thiên nhiên; Liên nho; Công cụ xã hội.

Chương ba: Kỹ thuật và thống trị: sự vĩ đại của nhân loại và những lời hứa của AI.

Mô hình kỹ thuật và quyền số.

Trí tuệ nhân tạo: Công cụ quý giá nhưng cần cảnh giác; nhiệm, minh bạch và việc quản lý AI.

Điều không được phép bị đánh mất: chủ nghĩa xuyên nhân loại và chủ nghĩa hậu nhân văn; Giới hạn, Trái tim và vĩ đại của nhân vị.

Ân sủng và nhân văn giáo

Hải thành đô và hai tình yêu

Chương bốn: Bảo vệ nhân loại trong thời đại của biến đổi: Chân lý, Việc làm, Tự làm

Chân lý hiểu như công cụ: Chân lý và dân chủ; Truyền thông và trí tưởng tượng tập thể; Hướng đến một môi trường truyền thông sinh học; Liên minh giáo dục thời đại AI; Vai trò trung tâm của các trường học.

Giá trị công việc trong thời đại số hóa: Giá trị của công việc; Sự cố thất bại; Một nền kinh tế tôn trọng sản phẩm giá trị con người; Gia đình và người trẻ.

Bảo vệ tự động chống lại các thuộc tính và thương mại hóa: Các thuộc tính và kiểm soát xã hội; Bẻ gẫy xiềng xích của những hình thức nô lệ mới.

Chương năm: Văn hoá quyền lực và văn minh tình yêu

Văn minh tình yêu thời đại số

Văn hóa quyền lực: Việc bình thường hóa chiến tranh; Sức mạnh không giới hạn; Vũ khí và AI; Sự khủng hoảng của đa số nguyên liệu.

Xây dựng nền văn bản minh tình yêu: Chúng tôi có thể đóng góp phần của mình; Đừng biến ngôn ngữ thành vũ khí; Xây dựng hòa bình qua sự công bằng; Vun đắp chủ duy thực lành mạnh; Đối thoại; Ngoại giao và đa nguyên; Cầu nguyện và hi vọng.

Kết luận: Lời thành xác phàm; Một thân thể ở Đức Giết; Magnificat, bài ca hi vọng.

PHẦN HAI – GIỚI THIỆU MỘT SỐ CHỦ ĐỀ

I. Magnifica Humanitas và Học thuyết xã hội của Hội thánh Công giáo

1. Mối liên hệ giữa thông điệp Magnifica Humanitas và Học thuyết xã hội

Trong dịp gặp hồng y ngay sau bầu cử, Đức Giáo hoàng cho biết ngài chọn Tông hiệu Lêô để nhớ đến Đức Lêô XIII, vị Giáo hoàng gắn liền với thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự) (1891) , mở đầu cho Học thuyết xã hội của Hội thánh Công giáo. Thông điệp Magnifica Humanitas được ban hành nhân kỷ niệm 135 năm Rerum Novarum . Đồng thời, bạn cũng có thể quan tâm đến trí tuệ nhân tạo (AI) như cuộc cách mạng công nghệ mới.

Người phản biện phê phán cho rằng Hội thánh không nên tiêu hao năng lượng vào những vấn đề trần thế, Đức Lêô XIII đã trả lời cách ngoằn ngoèo và thực tế rằng loan báo Tin mừng không thể không quan tâm đến cuộc sống thực tế của con người (số 3). Vì thế Magnifica Humanitas là thông điệp tìm cách đáp ứng những phản đối mới trong thời đại trí tuệ nhân tạo.

Thông điệp dành hai chương trình I & II để thúc đẩy lịch sử hình thành và những nội dung cơ bản của Học thuyết xã hội, nỗ lực mang lại những giá trị Tin khuyến mãi cho đời sống và xã hội tổ chức. Như vậy, chúng ta cần đặt thông điệp trong một bối cảnh lớn hơn là Học thuyết xã hội, chứ không chỉ nhìn vào một lẻ riêng biệt. Cũng là lý do tại sao phải nói đến Học thuyết xã hội.

2. Học thuyết xã hội phát hiện từ sự gặp gỡ giữa chân vĩnh viễn và những vấn đề trong lịch sử nhân loại

Tại sao có Học thuyết xã hội? Thưa ngài, để phục vụ loại nhân. Loan báo Tin mừng không thể không quan tâm đến đời sống thực tế của con người (Lêô XIII), trong đời sống đó, luôn có những vấn đề mới được đặt ra cho nhân loại (vd cách mạng kỹ thuật đã tác động rất lớn trên đời cũng sống kinh tế, xã hội như trên mỗi gia đình, mỗi cá nhân) và Hội thánh phải quan tâm để chia sẻ, hướng dẫn. “Thánh thánh bước đi cùng với nhân loại, nhìn nhận sự thiết lập của các thực tại trần thế và sự phân biệt giữa cộng đoàn chính trị với cộng đoàn tôn giáo Chính vì thế Hội ​​thánh muốn phục vụ công ích” (số 18). “Được nuôi dưỡng bằng cuộc đối thoại phong phú giữa Tin khuyến khích và tri thức nhân loại, Giáo hội từng bước phát triển Học thuyết xã hội” (số 24). “Học thuyết xã hội được sinh ra từ sự gặp gỡ giữa chân lý vĩnh viễn của Tin mừng và những vấn đề trong lịch sử” (27).

Thông điệp Magnifica Humanitas nhìn lại sự phát triển của Học thuyết xã hội từ Đức Lêô XIII đến nay. Ở những bước đầu, Thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêô XIII được coi là cột sáng trong sự phát triển hướng dẫn xã hội của Hội Thánh (30); Quadragesimo Anno của Đức Piô XI làm nổi nguyên tắc bổ trợ (31); thời Đức Gioan XXIII có thông điệp Mater et Magistra, Pacem in Terris (32-33); Gaudium et Spes of Vatican II trình bày hình ảnh Giáo hội gần gũi với nhân loại, bạo thân vào thế giới và suy nghĩ về thực tại cụ thể trong những hoàn cảnh lịch sử hơn là những ý tưởng tượng tượng” (34).

Sau Vatican II, Đức cào VI và Populorum Progressio coi sự phát triển được gọi là tên mới của hòa bình (35); Đức Gioan Phaolô II có nhiều thông điệp về xã hội như Laborem Exercens, Sollicitudo Rei Socialis, Centesimus Annus (38); Đức Bênêđictô XVI có Caritas in Veritate , coi bác ái gắn liền với sự thật là tâm điểm của Học thuyết xã hội (41).

Gần đây, Đức Francis trong Evangelii Gaudium khẳng định giáo dục dạy giáo dục có chiều kích xã hội và kêu gọi Giáo hội lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, di dân và nạn nhân của những hình thức nô lệ mới (42). Ngài còn quan tâm đặc biệt đến môi sinh qua Laudato si.

3. Sau khi nhắc lại lịch sử kép, Magnifica Humanitas trình bày những nguyên tắc của Học thuyết xã hội

– Công ích (số 59-64): công hữu “là toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép các tập thể hay các phần tử riêng có thể đạt tới sự hoàn hảo của mình cách đầy đủ và dễ dàng hơn” ( Gaudium et Spes , 26). Thiện ích chung thuộc về mọi người, và mọi người phải chung tay bảo vệ, giữ gìn.

– Mục tiêu phổ thông của tài nguyên thiên nhiên (số 65-67): (1) tài nguyên thiên nhiên được Thiên Chúa ban cho mọi người; (2) Giáo hội nhìn nhận quyền tư hữu nhưng quyền ấy phải phụ thuộc vào nguyên tắc phổ thông của cải, và Đức Gioan Phaolô II coi đây là nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ trật tự đạo đức xã hội (66).

– Hỗ trợ (số 68-72): vai trò của cá nhân, gia đình, cộng đồng địa phương không nên được thay thế bởi thẩm quyền cao hơn, vd Nhà nước. Nguyên tắc này thúc đẩy sự chia sẻ trách nhiệm của mọi người và tránh được tình trạng độc quyền!

– Liên nho (số 73-76): mỗi người là thành phần của mạng lưới tương quan với những người khác, do đó liên đới với nhau. Nguyên tắc này liên kết chặt chẽ với nguyên tắc hỗ trợ.

– Công xã hội (số 77-81): công nghệ xã hội có khả năng tạo điều kiện cho mỗi người sống cuộc sống phù hợp với sản phẩm giá người, không ai bị bỏ lại phía sau. Huấn luyện quyền thúc đẩy công việc xã hội phải quan tâm trước khi hết người nghèo, người nghèo trong xã hội. Công cụ xã hội giúp ta tìm thấy những bất công không chỉ là lựa chọn loại cá nhân nhưng vẫn làm cơ cấu cấu hình (khái niệm cơ cấu).

4. ba gợi ý suy nghĩ

– Mời gọi Dân Chúa mình. Thông điệp Magnifica Humanitas ôn lại Học thuyết xã hội không chỉ để trả lời với xã hội nhưng còn dịp để Giáo hội xét mình và cố gắng thực hiện trong đời sống Giáo hội: Công ích, bổ trợ, liên hoan, công bằng là những nguyên tắc cơ bản, chúng ta đã có thể hiện ra sao trong Giáo hội? Cần phải làm gì để thể hiện tốt hơn?

– Áp dụng các nguyên tắc của học thuyết xã hội vào việc sử dụng trí tuệ nhân tạo. Sau khi nhắc lại các nguyên tắc của Học thuyết xã hội, Thông điệp dựa trên các nguyên tắc trên để đưa ra các hướng dẫn trong công việc sử dụng trí tuệ nhân tạo, ví dụ:

Bổ sung (số 71): trong cuộc cách mạng kỹ thuật số, vị trí cao nhất không phải là Nhà nước nhưng là những nhân tố (đại gia) công nghệ. Họ độc quyền về chuyên môn, dữ liệu, quyền quyết định… Nguyên tắc bổ trợ mời họ phải hướng đến công ích và tạo điều kiện cho mọi người tham gia.

Liên đới (74): mạng lưới kỹ thuật số rõ ràng kết nối (kết nối) mọi người nhanh chóng và dễ dàng, nhưng liệu đã có liên đới thực sự hay chỉ là kết nối thông tin? Tôi nhớ đến hình ảnh so sánh một bên là nhà nghiên cứu về tình trạng nghèo đói trên thế giới đưa ra con số thống kê chính xác, và hình ảnh Mẹ Têrêsa Calcutta không biết đến thống kê nhưng đang phục vụ những người nghèo mắt trước bà.

Công xã hội xã hội (84): trong thời đại kỹ thuật số, cần tạo điều kiện cho mọi người đều có thể có những cơ hội thuận lợi như nhau, bảo vệ người trẻ và người yếu thế, chống lại phản thù và thông tin sai lệch…

Đây cũng là lý do khi đọc thông điệp Magnifica Humanitas , chúng ta cần quan tâm đến các chủ đề về Học thuyết xã hội. Nhiều người gọi đây là thông điệp về Trí tuệ nhân tạo, điều đó không sai nhưng thực ra thông điệp đặt trí tuệ nhân tạo trong bối cảnh lịch sử nhân loại, và Hội thánh bước đi với nhân loại trong dòng lịch sử tái, với những lo lắng và hi vọng, và tìm cách giải quyết, định hướng.

Ngoài ra, với tư cách là người đứng đầu Học viện Công giáo Việt Nam, tôi mong muốn có chuyên ngành về Học thuyết xã hội tại Học viện để các tín hữu có thể hiểu rõ hơn về Học thuyết này.

II. Magnifica Humanitas và Nhân học

1. Nền tảng của Học thuyết xã hội là Nhân học Giáo dục

Chúng tôi đã bàn về các nguyên tắc của Học thuyết xã hội , nhưng trước khi đưa ra những nguyên tắc này, thông điệp Magnifica Humanitas đã trình bày những nền tảng và đó chính là Nhân học Giáng giáo. Đây là hướng đi quen thuộc của Hội thánh.

Thử lại Gaudium et Spes là Hiến pháp chế độ duy nhất của Vatican II, bên cạnh các hiến pháp chế độ tín lý về Mặc Khải, Hội thánh, và Hiến pháp về Phụng vụ. Gaudium et Spes đã khai phát triển ra sao? Khởi đầu là đặt vấn đề về con người trong thời đại ngày nay: “ Đối diện với cuộc tiến hóa hiện nay của thế giới, càng ngày càng có nhiều người nêu lên câu hỏi hoặc nhận thức lại cách sâu sắc mới về những vấn đề vô cùng cơ bản: Con người là gì? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, sự dữ, cái chết? Sao họ vẫn tồn tại mặc dù đã có bao nhiêu tiến bộ? Chiến thắng đạt được một giá như thế có ích không?” (10)

Sau đó Gaudium et Spes trình bày suy tư Chết giáo về con người: Con người theo hình ảnh Thiên Chúa (12); Lỗi (13); Con người cấu hình yếu (14); Phẩm giá trí tuệ, chân lý và trí tuệ (15); Phẩm giá của lương tâm (16); Ý nghĩa cao cả của tự do (17); Mầu nhiệm chết (18). Đây chính là nền tảng của Nhân học Giáo dục và trên nền tảng đó, Gaudium et Spes mới đi sâu vào các vấn đề lớn và cụ thể: Cộng đồng nhân loại; Hôn nhân và gia đình; Phát triển văn hóa; Cộng đồng chính trị; Đòi chiến tranh; Cộng đồng quốc tế.

2. Magnifica Humanitas cũng nằm trong hướng này

Phụ đề của Thông điệp nhấn mạnh Nhân học: Về việc bảo vệ nhân vị trong thời đại trí tuệ nhân tạo ( Về việc bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo).

Những nền tảng chính yếu trong Nhân học Vẽ giáo:

– Con người là hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi: Nguồn mạch của Học thuyết xã hội là Thiên Chúa Tình Yêu, và tình yêu ấy được diễn tả cụ thể nơi Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể. Người được tạo xây dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi (x. St 1,26-27): được tạo dựng để sống Hiệp thông với Thiên Chúa, với tha nhân, với tạo thành (47-49). Phẩm giá không chỉ liên quan đến linh hồn mà đến con người toàn diện, bao gồm các đặc tính và linh hồn nhất, không thể phân chia ( Dignitas Infinita 18).

– Phẩm giá bình đẳng của mọi người: Phẩm giá con người “không tùy thuộc vào khả năng, cải thiện hoặc vị trí của người đó, cũng không tùy thuộc những lựa chọn thuốc tốt hay xấu của họ; đó là quà tặng đi trước và vượt qua mỗi người, được Thiên Chúa ban cho như hiện thực tình yêu của Ngài” (50). Phẩm giá con người có tính nội tại, nghĩa là gắn với chính con người chứ không thuộc thuộc bên ngoài: nhân quyền không phải là cái được thêm vào cho con người, nhưng là thực thể hiện ra bên ngoài sản phẩm giá nội tại của con người, và cộng đồng quốc tế được mời bảo vệ và thăng tiến quyền ấy (54). Phẩm giá đó là vô hạn (infinita dignitas), bất khả thi, tồn tại trong mọi hoàn cảnh.

– Giá trị tối thượng của nhân quyền: “Trong văn hóa hiện đại, tham chiếu gần nhất đến nguyên tắc trọng lượng sản phẩm giá không thể bỏ của con người chính là Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền . Đức Thánh Giáo II đã gọi đây là cột đèn trên con đường dài và khó khăn của nhân loại, và là một trong những biểu hiện cao nhất của lương tâm nhân loại” ( Dignitas Infinita 23).

Theo quan điểm Chết giáo, nhân quyền là phổ biến, bất khả xâm phạm vì nội tại nơi con người, bất khả năng nhượng. Căn bản là quyền sống, từ khi sinh ra đến khi chết tự nhiên. Đây là nền tảng cho mọi quyền khác, vì không có quyền này nên không thể thực hiện bất kỳ quyền nào khác (55). Khi quyền căn bản này được khước từ, như trong trường hợp khám phá, an tử, giết người vô tội, thì chúng ta phản đối những loại thuốc mà Hội thánh cho là sai trầm trọng (55).

3. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo có thực sự thăng tiến sản phẩm giá con người không?

“Cần xác định xem công việc sử dụng trí tuệ nhân tạo có thực sự thăng tiến sản phẩm giá con người, cám ơn gọi người làm và thiện ích chung hay không”. Văn kiện Antiqua et Nova nêu câu hỏi trên và đưa ra một số dấu hiệu của sự thăng tiến của sản phẩm giá con người để chúng ta có thể dựa vào đó đánh giá giá (x. số 109, 110).

– Chúng ta trở nên tốt hơn không vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa? Trí tuệ nhân tạo có thể làm cho chúng ta là người hơn không hay nó khiến chúng ta biến nó thành thần thánh, và loại trừ Thiên Chúa đích thực?

– Chúng ta có trưởng thành hơn về tinh thần không vì không chỉ có thể xác định mà còn có linh hồn. Trí tuệ nhân tạo có công việc cho chúng ta là người hơn không hay chỉ là robot?

– Chúng tôi có trách nhiệm hơn tha nhân, nhất là người nghèo không, vì con người là hữu thể tương quan. Trí tuệ nhân tạo có thể làm cho chúng ta là người hơn không hay làm cho chúng ta đánh nhau mất hiệp thông và tình liên đới với những con người thật, vì chỉ đắm mình trong thế giới ảo?

III. Magnifica Humanitas và Trí tuệ nhân tạo

1. Trí tuệ con người và trí tuệ nhân tạo

Cách đây không lâu, Tổng thống Mỹ và các đại gia công nghệ cho biết họ muốn đổi tên AI (Trí tuệ nhân tạo – trí tuệ nhân tạo) thành SI (Siêu trí tuệ – siêu trí tuệ). Thông tin này khiến tôi nhớ lại nhận xét của Đức Francis cho rằng việc sử dụng chính từ trí tuệ để nói về “trí tuệ nhân tạo” có thể gây hiểu lầm, và có nguy cơ bỏ qua điều quý giá nhất ở nơi con người. Trí tuệ nhân tạo không nên được xem là một dạng trí tuệ của con người mà chỉ là sản phẩm của con người trí tuệ.

Ở đây thiết kế nên đọc lại phân tích sâu sắc về từ “Trí tuệ” trong văn kiện Antiqua et Nova của Bộ Giáo lý đức tin & Bộ Văn hóa Giáo dục. Theo đó, trong truyền thống cổ điển, trí tuệ thường được hiểu qua hai khái niệm bổ sung cho nhau là lý trí (tỷ lệ) và trí năng (trí tuệ). Theo thánh Tôma, đây là hai cách thức vận hành hành động của cùng một trí tuệ: trí tuệ chỉ việc thoải mái hiểu nội tại chân lý, còn tỷ lệ xuất phát từ tiến trình tìm hiểu và lý luận ( Antiqua et Nova , số 14). Trí tuệ con người mang những tính chất đặc biệt:

Thứ nhất là tính hiện thân (hiện thân) hoặc tính xác thể (gắn với thân xác – robot không có): con người là linh hồn và xác, đau răng không chỉ ảnh hưởng đến thân xác nhưng cả hoạt động tinh thần như suy nghĩ, cầu nguyện. Người ta ghi thánh Gioan Thánh Giá ụa thẳng khi xuất thần, tức là trong hoạt động cao nhất của tinh thần là xuất thần, vẫn có một tác động thể lý.

Kế đến là tính tương quan: “người nam ở một mình không tốt” không có nghĩa duy nhất trong tương quan nam-nữ nhưng còn trong tương quan xã hội, con người là hữu thể mang tính xã hội. Trí tuệ nhân tạo kết nối (kết nối) chỉ chứ không nhất thiết phải tạo ra Hiệp thông, kiến ​​trúc tạo ra các mối tương quan.

Sau nữa là tương quan với chân lý (khao khát chân lý), và phục vụ cho thế giới (Trí tuệ nhân tạo không có lương tâm, phân định tốt xấu, không chịu trách nhiệm luân lý).

2.  Magnifica Humanitas và Trí tuệ nhân tạo

Magnifica Humanitas không đi vào phân tích từ ngữ sâu như Antiqua et Nova nhưng cung cấp một tầm nhìn tổng quát

Trước đó, Thông điệp nhấn mạnh rằng: “Chúng ta phải tránh quan niệm sai lầm khi coi trí tuệ nhân tạo và trí tuệ của con người như nhau. Những hệ thống này chỉ đơn giản bắt chước một số nhiệm vụ của trí tuệ con người. Trong công việc đó, nó thường xuyên tẩy trí tuệ con người về tốc độ, khả năng ghi nhớ và cung cấp những tiện ích hữu ích trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, khả năng này hoàn toàn gắn kết với công việc xử lý dữ liệu. Cái gọi là trí tuệ nhân tạo có những trải nghiệm, không có một thân xác, không cảm thấy vui hay buồn, không trưởng thành qua các mối tương quan và không biết từ trong thế nào là tình yêu, công việc, tình bạn hoặc trách nhiệm. Nó cũng không có lương tâm, vì nó không xác định tốt, không bắt ý nghĩa của từng hoàn cảnh, không chịu trách nhiệm về hậu quả gây ra. Chúng có thể bắt chước ngôn ngữ, kỹ năng ứng dụng và phân tích, vì mô phỏng đồng cảm và hiểu biết, nhưng chúng tôi không hiểu điều chúng tôi làm ra vì chúng tôi thiếu ảnh tình cảm, tương lai quan và tinh chất, điều kiện để con người lớn lên trong sự minh triết.

Hãy kể cả khi những công cụ này được mô tả là có khả năng “học”, cách học của nó cũng khác với con người. Đó không phải là kinh nghiệm của những người để chọn mình được xác định trong cuộc sống và lớn lên theo thời gian qua những lựa chọn, những lỗi sai, thứ thứ và trung tín. Đúng hơn, đó là sự thích nghi về thống kê dựa trên những dữ liệu và phản hồi, có thể rất hiệu quả nhưng không bảo đảm sự phát triển nội tâm” (số 99).

Có thể tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo (1) không có thân xác, không cảm thấy vui hay buồn, không trưởng thành qua các mối tương quan, và không biết từ nào trong đó là tình yêu, tình bạn; (2) không có lương tâm, không xác định tốt xấu, không chịu trách nhiệm về hậu quả gây ra; (3) cách học của nó chỉ là sự thích nghi về thống kê dựa trên những dữ liệu và phản hồi, có thể rất hiệu quả nhưng không bao gồm chức năng phát triển nội tâm.

Kế đến, Thông điệp nói đến những điều tích cực và tiêu cực trong việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (số 100).

Xin kể lại chứng từ của Vic Gundotra, Phó Giám đốc Google. Ông sinh ra trong gia đình theo “Chứng nhân Giêhôva” và rất nhiệt thành. Nhưng khi trưởng thành, ông đặt vấn đề về giáo phái này, cuối cùng rời bỏ giáo phái, trở thành thành vô thần. Ở thời điểm hoang dã nhất của cuộc sống, ông bắt đầu tìm hiểu về Công giáo qua một người bạn, và nhờ “trí tuệ nhân tạo” ông đọc các văn bản của Giáo phụ. Ông nói: “Trí tuệ nhân tạo đã đọc tất cả các Giáo phụ, đã đọc hết những gì Hội thánh viết từ năm 2000 năm nay”. Nhờ đó ông tìm hiểu và đào sâu đức tin, cuối cùng ông xin gia nhập Hội thánh giáo dục.

Theo ông, trí tuệ nhân tạo là phát minh lớn nhất trong đời ông, thậm chí chí giống như phát minh rafire và bánh xe; nhưng trí tuệ nhân tạo cũng là con dao hai phong, có những người coi nó là Thiên Chúa của họ, nhưng thực ra nó chỉ là công cụ thôi, không phải Chúa” (x. Bản tin EWTN tháng 2/2026). Trong một số dịp khác, ông kể khi đặt câu hỏi cho trí tuệ nhân tạo “Tại sao tôi sống?”, nó không có câu trả lời nhưng nó tip ý những câu trả lời từ một nguồn khác, trong đó có Công giáo.

Chứng minh từ trên của một chuyên gia nghệ thuật cho thấy trí tuệ nhân tạo vừa có lợi ích chứa đựng những nguy hiểm.

(1) Không ai có thể phủ nhận những lợi ích trí tuệ nhân tạo trong công việc nghiên cứu, chữa bệnh, liên kết, giáo dục, bảo vệ ngôi nhà chung.

(2) Đồng thời cũng không có ít tác động tiêu cực. Theo Magnifica Humanitas khi sử dụng trí tuệ nhân tạo, chúng ta nên lưu ý ba điều:

Thứ nhất là sự dễ dàng, nhanh chóng thu thập thông tin, nhờ đó công việc thoải mái hơn. Tuy nhiên, nếu dựa vào trí tuệ nhân tạo quá nhiều, chỉ tìm những câu trả lời có sẵn, thói quen đó sẽ làm suy yếu sáng tạo và phán đoán cá nhân.

Thứ hai là biểu tượng về tính khách quan của những câu trả lời hoặc mẹo của trí tuệ nhân tạo khiến chúng ta quên rằng những mẹo ý đó chỉ phản ánh ánh sáng quan điểm của người thiết kế và huấn luyện nó, với những điểm mạnh và điểm yếu của họ. Khi biết bao dữ liệu của thế giới, họ chỉ chọn những dữ liệu theo quan điểm của họ.

Mô phỏng giao tiếp tiếp theo của con người (lời khuyên, đồng cảm, tình bạn) có thể hữu ích đôi lúc, nhưng nếu không để ý, sẽ bị ảo tưởng là mình đang có mối quan hệ cá nhân với con người thật, hơn nữa có thể đi đến phòng đánh mất dần những mối tình quan hệ thực sự giữa người với người.

3. Đề xuất một chế độ

– Không thể tách tiến bộ công nghệ khỏi tiến bộ đạo đức: “Những tiến bộ khoa học và kỹ thuật cần phải song hành với sự phát triển xã hội và đạo đức; nếu không thì sẽ chống lại nhân loại” (117).

– Hãy sử dụng công nghệ không lo ngại để công nghệ sử dụng chúng ta. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, Đức Thánh cha Lêô XIV kêu gọi: “Đừng để thuật toán viết câu chuyện đời bạn! Chính các bạn hãy là tác giả; hãy sử dụng công nghệ không cách óc chứ đừng để công nghệ sử dụng bạn. Trí tuệ nhân tạo cũng là sự mới vĩ đại trong thời đại chúng ta. Tuy nhiên chỉ “thông minh” trong thế giới ảo mà thôi thì chưa đủ; sinh”.

– Hãy là ngôn sứ của thế giới số: “Hãy học cách nhân hóa thế giới số, xây dựng nó trở thành không gian của tính sáng tạo và tình huynh đệ, không phải như cái chuồng nhốt bạn trong đó, không phải như ngập lụt hay trốn tránh thực tại. Thay vì là khách du lịch trên web, hãy là ngôn ngữ của thế giới số!”

IV. Magnifica Humanitas và Mạng xã hội

1. Những mối nguy hiểm của mạng xã hội & trí tuệ nhân tạo

Vào năm 2026, nhiều quốc gia đã đưa ra các quy định nghiêm ngặt về việc trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội. Nước Úc đi đầu, sau đó nhiều quốc gia tiếp nối, hoặc cấm trẻ dưới 16 tuổi không được sử dụng mạng xã hội hoặc hạn chế sử dụng điện thoại thông minh trong lớp học. Lý do là vì họ đã phát hiện ra những nguy hiểm của mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đối với trẻ vị thành niên.

Magnifica Humanitas cũng nêu ra những nguy hiểm của mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo. Về việc truyền thông nói chung, Thông điệp xác định rằng các kỹ thuật nền tảng và trí tuệ nhân tạo đã được tạo ra nên những thay đổi sâu xa trong truyền thông. Những công cụ này có thể đưa ra đối thoại và tham gia, nhưng cũng có thể được sử dụng để tăng gian dối, che mờ sự thật. Sự sai lệch thông tin này đã có từ trước nhưng trí tuệ nhân tạo và các nền tảng hoạt động lớn hơn. Văn kiện Antiqua et Nova vẫn nói đến một vấn đề đáng lo ngại hơn, đó là việc cố ý sử dụng trí tuệ tạo để thao túng: lan truyền nội dung sai sự thật nhắm mục tiêu gian dối hoặc gây nguy hiểm, gây hại Dù hình ảnh hay video có thể là nhân tạo nhưng gây tổn hại mà chúng gây ra là thật, để lại những vết sẹo sâu trong tâm hồn người bị tổn hại, và những vết thương thật sự nơi sản phẩm giá trị của con người họ (Ibid).

Cách riêng về việc trẻ em sử dụng mạng xã hội, những nghiên cứu cho thấy việc trẻ em sử dụng các thiết bị nghiên cứu số quá sớm và không được giám sát dẫn đến những hậu quả tiêu cực lên giấc ngủ, sự chú ý, kiểm soát cảm xúc và quan hệ, đôi khi là những hậu quả bi thảm… Những hiện tượng trực tuyến đã như đe dọa và khai tình huống giáo dục trẻ nhỏ phải là. Tệ hơn nữa là người ta sử dụng thuật toán và trí tuệ nhân tạo để thao túng hình ảnh và video ( Magnifica, số 141).

2. Đề xuất một thái độ đúng đắn cho mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo

– Thúc đẩy một môi trường sinh truyền thông lành mạnh: “Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta không phải là thần thánh hóa hay ma quỷ hóa những công cụ kỹ thuật, nhưng lại sử dụng chúng theo nguyên tắc bản bản này: sự thật, chân lý là thiện hảo chứ không phải là của riêng những người quyền lực và có ảnh hưởng. Do đó chúng ta phải cấp một môi trường truyền thông” (số 137).

– Nền tảng là chân lý phổ thông và không tương lai: “Có chân lý phổ thông về sự thiện và lý trí có thể nhận biết, khi ý tưởng này bị mất đi thì ý tưởng về lương tâm cũng thay đổi” (Đức Gioan chào II); “Nếu xã hội muốn có một tương lai, nó phải tôn trọng thực tế về sản phẩm giá con người và quy phục thực sự đó. Giết người là sai, điều đó không chỉ đơn giản là vì xã hội không chấp nhận và ra luật để trừng phạt, nhưng vì xác tín sâu xa hơn. Đây là chân lý không thể thương lượng” (Đức pháo, số 133). “Trí tuệ nhân tạo có thể trở thành một công cụ hỗ trợ sản phẩm giá trị cho người dùng nếu nó giúp người hiểu được các khái niệm phức tạp hoặc hướng họ đến những nguồn tài liệu đáng tin cậy để hỗ trợ hành trình tìm kiếm chân lý của họ” ( Antiqua et Nova , số 85-87).

3. Vai trò của mọi thành phần

Với các bậc cha mẹ: Cần cảnh giác về công việc con cái sử dụng các thiết bị số. Theo định nghĩa của một số chuyên gia, vấn đề không chỉ là mạng xã hội mà là công nghệ cơ bản, nếu trao vào tay trẻ sớm quá, sẽ không tốt. Cũng như một người nghiện luôn muốn tăng liều: từ cần sa đến heroin, cocaine, ma túy đá… tương tự như thế khi trẻ cầm điện thoại trong tay quá sớm, các em dễ bị cuốn hút và càng ngày càng lệ thuộc hơn. Magnifica Humanitas cũng rất quan tâm đến điều này khi nhắn nhủ: Có một thiết bị di động khi còn quá nhỏ và sử dụng mà không có giám sát của người lớn, thì điều đó chỉ làm gia tăng sự dễ thâm thương cho người trẻ, gia tăng ngập ngập, và dẫn các em đến sức cô lập, bắt trên mạng, cũng như bị ép chia sẻ những hình ảnh thân mật và thông tin nhạy cảm (x. số 141).

Với các nhà giáo dục: Giáo dục không chỉ là truyền đạt các sự kiện và kỹ năng trí tuệ; đúng hơn, mục tiêu của giáo dục là góp phần vào sự đào tạo toàn diện cho người ở nhiều khía cạnh khác nhau (tri thức, văn hóa, khoáng ngọc). Trung tâm của công trình giáo dục tương diện con người chính là mối quan hệ thiết yếu giữa giáo dục viên và học sinh. Giáo viên không chỉ truyền đạt kiến ​​thức nhưng còn làm xà về những sản phẩm chất nhân bản cốt yếu và khơi dậy niềm vui khám phá. Vì thế vai trò của các nhà giáo rất quan trọng (x. 144-146).

Một trong những cơ sở nguy hiểm hàng ngày này là dòng chảy không ngừng nghỉ của thông tin đang thay thế cho công việc nghiên cứu, suy tư và phân tích. Kiến thức bị phân mảnh, không có cái nhìn toàn diện, không nắm bắt thực tại trong cái toàn thể, không đặt ra những câu hỏi sâu xa về ý nghĩa đời sống, không phát huy khả năng suy tư. Việc sử dụng AI cách tràn lan trong giáo dục có thể dẫn đến việc học sinh ngày càng lệ thuộc vào công nghệ, làm suy giảm khả năng thực hiện một số kỹ năng độc lập, và càng lệ thuộc màn hình hơn (x. Antiqua et Nova, 81).

Về xã hội-chính trị: Magnifica Humanitas kêu gọi các chính quyền cần có những chính sách công với tầm nhìn xa để chống lại những lợi nhuận nhuận tức thời của nền tảng nền tảng, tập trung trong tay một số người. Ví dụ các nhà làm luật cần giới hạn tuổi sử dụng mạng xã hội, yêu cầu các nhà cung cấp phải cam kết trách nhiệm và phải đưa ra những quy định chống lại việc khai thác tình giáo dục trên mạng (142).

Với các tập đoàn công nghệ: trong thế giới kỹ thuật số, quyền lực của các tập đoàn công nghệ siêu quốc gia là rất lớn. Nó không chỉ thông tin nhưng vẫn được định nghĩa toàn văn hóa. Vì thế, “Tất cả những ai tham gia sản xuất và sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo cần có sự đảm bảo tính trung thực và độ chính xác của thông tin được xử lý bởi các hệ thống này và được phổ biến cho chúng” ( Antiqua et Nova , 86).

kết luận

1. Hai hình ảnh Kinh Thánh trong Magnifica Humanitas : Tháp Babel và Xây dựng lại Tường thành Jerusalem

Tower Babel (St 11,1-9) là hình ảnh những dự án muốn loại trừ Thiên Chúa vì dũng khí, muốn tìm kiếm sự đồng nhất và loại trừ tính đa dạng. Kết quả không phải là Hiệp nhất nhưng là xung.

Ngược lại, việc xây dựng lại Tường thành Giêrusalem (Nêhêmia 2-6) là hình ảnh của Hiệp thông và hài hòa. Nêhêmia xin vua Ba Tư cho về Giêrusalem. Ông quan sát cảnh tàn tàn, không áp dụng giải pháp. Ông quy tụ các gia đình, phân chia công việc cho mỗi nhà. Câu chuyện cao sự chia sẻ trách nhiệm của mọi người. Jerrusalem khám phá ngôn ngữ chung, không phải ngôn ngữ của sự đồng nhất nhưng là của Hiệp thông, sự hài hòa (số 8).

2. Thái độ đúng đắn đối với cách kỹ thuật số: xây dựng tường thành Jerusalem thay vì xây dựng tháp Babel

Tiến bộ công nghệ ngày nay mang lại nhiều lợi ích cho con người: chữa bệnh, liên kết, giáo dục, bảo vệ nhà nhà chung… nhưng cũng có thể tạo ra những hình thức bất công mới: loại trừ, chia… Vấn đề không phải là hoan hô hay tấn công nghệ nhưng là xây tháp Babel hay xây dựng thành thành Jerusalem (số 9). Vì vậy phải tránh “hội chứng Babel” là chỉ tiền mã hóa mà bỏ quên người nghèo, loại lợi trừ Thiên Chúa, biến con người thành phương tiện tiện lợi, chủ tài khoản chỉ một ngôn ngữ là ngôn ngữ số (kỹ thuật số) có thể dịch hết mọi thứ. Thay vào đó phải chọn đường hoa của Nêhêmia, đồng thời làm công việc hướng dẫn hữu ích chung trong tinh thần hiệp hành (số 10).

Vì thế Magnifica Humanitas kêu gọi cuộc sống tương quan mật thiết bị Thiên Chúa (11), quan tâm đến công ích, không gây ra khoảng cách xa giữa giàu và nghèo (12), cùng chia sẻ trách nhiệm, mỗi người là một công việc trong khả năng của mình (13), lấy ngôn ngữ Phúc Âm là ngôn ngữ chung (14). Như thế, các môn đệ Chúa Giêsu sẽ trở thành ngôn ngữ sứ trong thế giới số, những con người mềm dẻo Lời Chúa, và cho mượn Lời trên thế giới kỹ thuật số.

GM. phản Nguyễn Văn Khảm

Nguồn: hdgmvietnam.com