Các bài suy niệm Chúa Nhật Tuần V Phục Sinh A

55 lượt xem

Sứ Mạng Đấng Cứu Thế 

Cv 6,1-7; 1 Pr 2,4-9; Ga 14,1-12

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

Bài Tin Mừng hôm nay được trích từ Tin Mừng Gioan (14,1-12), trong đó, có những mạc khải rất quan trọng mà Chúa Giêsu gửi đến các môn đệ ngày xưa và qua các ông, Người cũng gửi tới mỗi người chúng ta hôm nay. Chúng ta tập trung suy niệm bốn mạc khải quan trọng trong thánh lễ này. Đó là:

1)  “Thầy đi dọn chỗ cho anh em;”

2) Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy;”

3)  “Ai xem thấy Thầy là xem thấy Chúa Cha;”

4)  “Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa.”

Chúng ta lần lượt tìm hiểu từng lời một của Chúa Giêsu.

1. “Thầy đi dọn chỗ cho anh em”

Trước hết, Chúa Giêsu nói với các môn đệ lời này trong bối cảnh trước khi Chúa Giêsu bước vào cuộc khổ nạn. Nghĩa là Chúa chấp nhận đi vào con đường khổ nạn và chịu chết trên thập giá. Điều này đã làm cho các môn đệ hết sức lo lắng và xao xuyến. Bởi vì đối với con người, đối diện với cái chết là đối diện với một thách đố lớn nhất. Cái chết làm cho con người xa lìa nhau vĩnh viễn, và không bao giờ sẽ gặp lại nhau nữa. Nên cái chết là nỗi ám ảnh lớn nhất của con người, khiến ai cũng phải sợ chết. Nhưng đối với Chúa Giêsu, giờ phút đi vào cuộc khổ nạn là giờ của Chúa, giờ quan trọng phải thực hiện theo thánh ý Chúa Cha. Giờ thập giá là giờ cứu độ và là giờ vinh quang. Vì thế, Người phải ra đi thì có lợi cho con người. Đối với Người, sự sống này không quan trọng cho bằng sự sống đời sau.

Chúa Giêsu chấp nhận lìa bỏ thế gian, chia tay các môn đệ để ra đi dọn chỗ cho các môn đệ bằng cái chết trên thập giá, và Người được mai táng trong mồ, đến ngày thứ ba nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa Cha đã làm cho Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết; Người được siêu tôn là Đức Chúa và là Đấng Cứu Độ trần gian. Đấng Phục Sinh là người đầu tiên đã đi vào sự sống đó. Người khai mở một đời sống mới cho chúng ta. Đó là sự sống phục sinh, sự sống hoàn toàn mới mẻ và hoàn toàn khác biệt với sự sống tự nhiên. Người là Đấng Hằng Sống. Như thế, cái chết là cửa để đưa Người vào một thế giới mới, và nhờ đó Người được hoàn toàn hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha. Người về với Chúa Cha và để dọn đường cho chúng ta mai sau cũng sẽ được chia sẻ sự sống đó với Người.

Đọc những lời trên dưới ánh sáng phục sinh, chúng ta mới hiểu ý nghĩa của Lời Chúa nói: “Thầy đi thì có lợi cho anh em,” hay “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em.” Và Người hứa là Người sẽ trở lại với các môn đệ. Người đã thực hiện lời hứa đó, sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã xuất hiện với các môn đệ. Người hiện ra nhiều lần với các ông để củng cố niềm tin cho các ông và để minh chứng rằng những gì Người nói đã được ứng nghiệm.

2. “Chính Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”

Trước hết, Đức Giêsu tự xưng mình là đường. Dĩ nhiên, Chúa Giêsu không phải là đường bộ, đường rừng, đường thủy hay đường hàng không… Nhưng Người là người mở đường và là chính con đường nối Thiên Chúa với con người qua mầu nhiệm nhập thể. Người là người mở ra một con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực, đó là con đường Thánh Giá mà Người đã đi qua nhờ mầu nhiệm tử nạn. Con đường đó là con đường hẹp, nhưng là con đường dẫn con người tới ơn cứu độ và hạnh phúc đích thực. Con đường rộng thênh thang chỉ dẫn tới sự diệt vong. Người đã mở ra một con đường để nối kết con người với Thiên Chúa, hiện tại với vĩnh cửu, nhờ mầu nhiệm phục sinh của Người. Những người sáng lập các tôn giáo khác chỉ là những người dẫn đường. Còn Đức Giêsu hơn hẳn họ bởi vì Người vừa là người dẫn đường vừa là con đường. Chỉ qua Người chúng ta mới có ơn cứu độ.

Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI nói rằng:

“Có nhiều con đường để đến với Thiên Chúa, nhưng chung quy lại, chỉ có một con đường duy nhất, đó là Đức Giêsu Kitô.”

Đức Giêsu là chân lý. Người chính là mạc khải của Thiên Chúa Cha. Người mang đến cho chúng sự thật về Thiên Chúa, về con người và thế giới. Sự thật mà Đức Giêsu mang đến giải thoát con người khỏi mọi sự gian dối, nô lệ và bất công. Nếu chúng ta bước theo Đức Kitô, chúng ta có sự thật và ơn giải thoát. Đúng như có lần Chúa nói:

“Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32).

Đức Giêsu chính là sự sống. Quả thế, Đấng Phục Sinh là Đấng Hằng Sống, là nguồn sự sống và là Đấng ban sự sống mới cho chúng ta. Bởi vì, trong lịch sử loài người, chưa có ai có thể đi vào sự sống mới của Thiên Chúa. Người đã chiến thắng sự chết và bẻ gãy xiềng xích tội lỗi và sự dữ vốn kìm hãm con người trong âm phủ, và ban cho con người sự sống vĩnh cửu, để con người được sống và sống dồi dào.

Như thế, Đức Giêsu là đường dẫn chúng ta tới Thiên Chúa Chúa, là sự thật soi sáng cho chúng ta và là sự sống đời đời của mỗi người chúng ta.

3. “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”

Chúng ta chuyển sang mạc khải thứ ba. Chúa Giêsu mạc khải cho các môn đệ biết tương quan giữa Người với Chúa Cha:

“Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9b).

Đây là một lời mạc khải rất mới mẻ.

Cựu Ước cho thấy Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn thánh thiện, vô hình và bất khả thấu, nghĩa là con người không thể nhìn thấy, tiếp cận và đối diện với Người. Chưa ai đã nhìn thấy Thiên Chúa bao giờ. Thiên Chúa vô hình, nên dầu Người hiện ra ở Sinai, thì Môsê chỉ nhìn thấy Thiên Chúa qua hình ảnh ngọn lửa cháy nơi bụi gai. Kinh Thánh cho biết: Dẫu được trực tiếp nói chuyện với Thiên Chúa, nhưng ông chỉ nhìn thấy cái lưng của Thiên Chúa, chứ không thể diện đối diện hoặc thấy Người.

Nhưng vì Thiên Chúa là tình yêu, nên Người đã để cho con người đến gặp Người. Điều mới mẻ đã xảy ra trong Tân Ước, với mầu nhiệm nhập thể, Thiên Chúa có một khuôn mặt cụ thể, gần gũi và dịu dàng hơn lúc nào hết qua khuôn mặt của Đức Giêsu. Người đã để cho chúng ta có thể gặp gỡ và đụng chạm tới Người. Đức Giêsu là hình ảnh của Thiên Chúa, hay nói như Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Đức Giêsu chính là “dung mạo lòng thương xót của Thiên Chúa.”

Đức Giêsu chính là sứ giả được Chúa Cha sai đến để thi hành sứ vụ cứu độ trần gian. Vì thế, mọi lời nói và việc làm Người thực hiện nhân danh Chúa Cha. Điều mới mẻ trong sứ điệp này là Thiên Chúa là Cha của Người. Người ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Người. Người là hình ảnh của Chúa Cha, nên “ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy.”

Mọi người chúng ta phải đụng chạm và gặp gỡ một cách cá nhân lòng thương xót của Thiên Chúa, một tình yêu thật ân cần và gần gũi với mỗi người chúng ta.

Vậy làm sao chúng ta có thể thấy được Chúa Kitô? Người đã về trời cách đây 2000 năm. Các ảnh tượng của Người có giúp chúng ta thấy Người được không? Ngày hôm nay, chúng ta không có may mắn để nhìn thấy trực tiếp Chúa Giêsu như các Tông Đồ, nhưng Chúa Giêsu tiếp tục hiện diện với chúng ta qua bí tích Thánh Thể. Nơi đó, Người trở thành của ăn nuôi sống linh hồn chúng ta. Đấng Phục Sinh và Đức Giêsu Thánh Thể là một. Người hiện diện với chúng ta dưới hình bánh và rượu để trở nên của ăn thức uống nuôi sống linh hồn chúng ta. Bởi thế, chúng ta được mời gọi hãy đến với thánh lễ để gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh và đón nhận Người. Thánh Thể phải là trung tâm điểm của đời sống Kitô hữu, bởi lẽ, nơi Thánh Thể, Thiên Chúa gần gũi, ân cần và yêu thương mỗi người chúng ta hơn hết. Ước gì mỗi lần đến tham dự thánh lễ, chúng ta có những điều kiện cần thiết như sạch tội và có lòng sốt sắng để đến với Chúa Giêsu Thánh Thể.

4. “Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa.”

Bài đọc I hôm nay minh chứng điều đó. Tin vào Chúa Giêsu không chỉ sẽ được phần rỗi đời đời, nhưng còn làm những việc lớn lao hơn thế nữa. Sách Công Vụ Tông Đồ kể lại: Sau khi Chúa Phục Sinh, các Tông Đồ được đầy ơn Thánh Thần, đã hăng hái đi khắp mọi nơi loan báo Tin Mừng phục sinh. Có rất nhiều người đã theo đạo. Các Tông Đồ không những rao giảng nhưng còn làm việc bác ái cho các tín hữu. Nhưng số tín đồ trở nên đông đúc, họ không thể lo nổi nhiều trách vụ, nên họ đã chọn thêm các phó tế để lo việc phục vụ và phân phát lương thực cho các bà góa trong cộng đoàn. Thánh Phêrô trong một bài giảng sau lễ Hiện Xuống, đã làm cho khoảng 3000 người theo đạo. Đây là những điều kỳ diệu và những thành quả mà các Tông Đồ làm xem ra còn vĩ đại hơn và lớn lao hơn nhiều so với con số mà Chúa Giêsu có được trong cuộc đời rao giảng của Người. Chúa Giêsu xem ra có vẻ lép vế so với con số này, trong suốt ba năm rao giảng, Chúa Giêsu chỉ chiêu mộ được một nhóm nhỏ là các Tông Đồ, 72 môn đệ khác và một người khác, nhưng khi Chúa chết, họ đã bỏ đi gần hết, có nhiều người còn phản bội Chúa nữa.

“Ai tin vào Thầy, người đó còn làm được những việc lớn lao hơn nữa.” Với quyền năng của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội không ngừng lớn mạnh, Tin Mừng không ngừng được loan báo khắp nơi trên thế giới. Sau hơn hai mươi thế kỷ, Giáo Hội có đông đảo thành viên theo đạo. Hiện nay, có biết bao trường học, bệnh viện, tổ chức xã hội do các thành viên trong Giáo Hội thành lập để phục vụ con người. Đó là những việc làm lớn lao mà những người tin vào Chúa Kitô đã thực hiện được.

Nếu mỗi người chúng ta cũng thế, nếu chúng ta có đức tin chỉ bằng hạt cải thôi, chúng ta cũng có thể chuyển núi dời non, như Chúa đã nói. Xin cho mỗi người chúng ta có một đức tin mạnh mẽ và cá vị vào Chúa Giêsu, ngõ hầu chúng ta có sức mạnh thực hiện những điều lớn lao cho Chúa và cho tha nhân trong đời sống mỗi người chúng ta. Amen!

Theo Chúa Trên Đường Sự Sống

(Cv 6,17; Tv 32; 1Pr 2,4-9; Ga 14,1-12)

Lm. Petrus Lửa Hồng

Trong bài hát “Và con tim đã vui trở lại”, nhạc sĩ Đức Huy viết: “Tìm một con đường, tìm một lối đi, ngày qua ngày, đời nhiều vấn nghi…”. Con người tiến bước trên những nẻo đường, không chỉ trên những con lộ thuộc bình diện không gian thời gian mà cả trên bình tâm linh. Tự con người đã là một lối dẫn cho chính mình vì nó được tạo dựng theo và giống hình ảnh Thiên Chúa để tìm về trong sự hiệp thông trọn vẹn với Hoá Công. Tuy nhiên, con người không khỏi khắc khoải và vấn nghi để trên hành trình của mình: tìm một con đường, tìm một lối đi… Các môn đệ cũng “xao quyến”, và Chúa Giêsu cho họ sự bình tâm với niềm tin vào Thiên Chúa. Quả thực, nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, con người tìm được CON ĐƯỜNG dẫn tới sự thành toàn trong ơn gọi nhân linh của mình.

Giêsu, Đường dẫn tới sự sống thật[1]

Chưa có ai dám khẳng định mình là con đường, có chăng người ta chỉ giám làm kẻ chỉ lối, nẻo bước. Các hiền nhân cũng chỉ nhận mình là “bà đỡ”, “ngón chỉ mặt trăng”. Chỉ nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa thành nhân, Đấng không chỉ dẫn đường, chỉ lối mà chính là Con đường đảm bảo cho con người khỏi mông lung lạc nẻo. Người nói: “Ta là đường” (Ga 14,6). Đây là một thực tại, vì đó là con đường dẫn tới cùng đích: “nhờ Người mà chúng đến cùng Chúa Cha” (Ga 14,6; Ep 2,18). Bởi vậy, Đức Giêsu khẳng định thêm: “Ta là chân lý và là sự sống” (Ga 14,6), và như thế Người vừa chính là con đường vừa là đích điểm. Con đường xét theo nhân tính và cùng đích xét theo thần tính. Vì thế, trong tư cách con người, Đức Giêsu nói: “Ta là đường”, và trong tư cách Thiên Chúa, Người khẳng định: “là chân lý và là sự sống”. Như thế, với Đức Giêsu, chúng ta không phải đăng trình với sự “xao xuyến”, sợ lạc nẻo, không sợ con đường cụt, vì Người chính là Đường và là cùng đích. Tiến bước trên con đường Giêsu, chúng ta đang đi về cùng đích của hành trình, vì Người là “Đấng khai mở và kiện toàn” hành trình đức tin. Vậy nên, điểm đến của con đường là cùng đích mà con người khắc khoải đăng trình. Điểm đến của mọi con đường là “Nhà”, là Nước Chúa, là chính Chúa. Đó là cùng đích của hành trình chúng ta. Trên con đường tới đích điểm này, con người khát mong chân nhận chân lý và sự sống.

Nơi Đức Giêsu – Ecce Homo, chúng ta nhân ra chân lý Thiên Chúa và chân lý về chính mình. Người là con đường đưa tới sự nhận biết chân lý, và chính Người là chân lý: “Xin dạy con đường lối Ngài, Lạy Chúa, để con vững bước theo chân lý của Ngài” (Tv 85,11). Tương tự như thế, Đức Kitô chính là con đường để đạt tới sự sống, vì chính Người là sự sống: “Xin dạy con biết đường về cõi sống” (Tv 15,11). Đức Giêsu đã chỉ định đích điểm của con đường này là sự thật và sự sống. Chính Người là con đường và là sự sống: Người là sự sống, nơi Người là sự sống, và Người là chân lý, vì Người là “ánh sáng cho nhân loại” (Ga 14,1), và Ánh sáng là Chân lý. Vì vậy, nơi con đường Giêsu, con người tiến bước trong chân lý và đạt tới sự sống.

Hãy tiến bước trên con đường Giêsu…

Khi đã nhận ra con đường, chúng ta được mời gọi đăng trình. Khi chúng ta đã xác định được hướng đích, chúng ta hãy tiến bước. Đức Kitô là Con đường dẫn tới Sự thật và Sự sống”, là con đường dẫn chúng ta tới sự thật về Thiên Chúa, về chính mình và toàn thể vũ hoàn. Chúng ta hãy tiến bước trên con đường Giêsu. Đó là đường khiêm nhường và hiền lành, đường tự huỷ và hiến trao. Đó là đường tình – yêu cho đến cùng.

Tiến bước trên con đường Giêsu, đường sự thật, đường dẫn tới cùng đích và là sự sống chính là “Đường hiến trao cho người khác”. Quả thực, Đấng là Đường đã khẳng định: “Không có tình yêu nào cao trọng hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Tiến bước trên con đường Giêsu là tiến bước trên con đường tình yêu, đường của hạt lúa múc nát để “sinh hoa trái”, để đem lại “sự sống dồi dào”.

Tiến bước và kiến tạo vương quốc tình yêu. Đó là hành trình của chúng ta, của những người tuyên xưng vào con đường Giêsu, con đường đức tin. Thánh Phêrô trong bài đọc thứ hai mời gọi chúng ta: “Anh em hãy tiến lại gần Đức Kitô, viên đá sống động… được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá”. Tiến lại gần và tiến bước trên nền tảng Đức Kitô để được kiến tạo thành tòa nhà thiêng liêng, đền thờ Thiên Chúa: “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền thờ thiêng liêng, hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người nhờ Đức Giêsu Kitô” (1Pr 2,4.5).

Đường Giêsu, đường tình yêu, đường duy nhất dẫn chúng ta tới cùng đích, tới dự hội vui của con cái Thiên Chúa: “Đây là con đường, hãy tiến bước trên đó” (Is 30,21). Hãy bước theo Chúa Kitô, vì Người là chân lý mà chúng ta muốn đạt tới: “Miệng ta loan báo điều chân thật” (Cn 8,7)Hãy gắn bó với Đức Kitô, vì Người là sự sống: “Vì ai gặp được Ta là gặp được sự sống, và hưởng ân lộc Đức Chúa ban cho” (Cn 8,35).

Tiến bước theo Đức Kitô, chúng ta không thể lầm đường lạc lối, vì Người là con đường duy nhất và chân thật. Gắn bó với Người, chúng ta sẽ không rơi vào ngõ cụt, không bí lối, nhưng sẽ tiến bước trên đường đoan chính. Người ấy sẽ không bị lừa dối, vì chính Người là chân lý toàn vẹn. “Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin” (Tv 32,4).

…và trên con đường con người

Đi trên con đường Giêsu, chúng ta được mời gọi tiến bước trên con đường của con người. Chính Người đã đi vào hành trình thành nhân để dạy chúng ta tiến bước và tiến đích. Công đồng Vaticano II khẳng định: “Mầu nhiệm con người chỉ thực sự được sáng tỏ nơi mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể” (GS, 22).

Quả thực, nhờ Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, con người nhận ra con đường nơi chính mình, con đường mà Con Thiên Chúa mạc khải khi tạo dựng nên họ theo và giống hình ảnh của người. Lão tử từng dạy: “Đạo bất viễn nhân, Đường không xa rời con người”. Đức Gioan Phaolô II khẳng định: “Con người là con đường của Giáo hội”. Chân đạo luôn luôn vị nhân sinh, không xa con người. Đặc biệt, nơi Đức Giêsu, Đường duy nhất, chân thật mà Thánh Augustino mời gọi chúng ta “hãy đi qua con người và bạn sẽ đạt tới Thiên Chúa”.

Đức Giêsu, chúng ta nhân ra “con người là con đường của Giáo hội”. Đó là khẳng định của Đức Gioan Phaolô II trong Thông điệp Centessimus Annus (Bách chu niên) với tiêu đề “Con người là con đường của Giáo hội”, đặc biệt ở các số số 53-62. Ngài nhấn mạnh: Giáo Hội có trách nhiệm chăm sóc không những toàn thể nhân loại mà còn chăm sóc cho từng cá nhân sao cho muôn người được ơn cứu độ, rằng:

“Giáo Hội không quan tâm tìm cách phục hồi những đặc quyền trong quá khứ hoặc tìm cách áp đặt quan điểm của mình. Mối quan tâm của Giáo Hội là con người, con người “cụ thể”, mỗi con người được Đức Kitô kết hợp với. Con người là con đường đầu tiên Giáo hội phải đi qua để chu toàn sứ vụ của mình” (Centessimus Annus, 53).

Đức Giêsu, Đường cứu độ duy nhất như thánh Phêrô loan báo (Cf. Cv 4,12). Đó là con đường mà chúng ta phải đi qua để thành toàn, và chúng ta có sứ mạng loan báo về Người để nhân loại cũng đạt tới ơn cứu độ. Đó là ưu tiên mà các tông đồ nhấn mạnh trong bài đọc thứ nhất “chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa”, nghĩa là “loan truyền những kỳ công của Thiên Chúa”, Đấng đã gọi con người bước vào dân thánh, dân được cứu độ, được đưa ra khỏi miền u tối, để tiến bước trên quan lộ đoan chính với với ánh sáng diệu huyền.

Tin Vào Chúa Để Vượt Qua Xao Xuyến

Cv 6,1-7; 1 Pr 2,4-9; Ga 14,1-12

Lm. Anthony Trung Thành

Con người thời đại hôm nay, dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong khoa học, kỹ thuật và đời sống vật chất, vẫn không thoát khỏi một thực trạng căn bản: sự xao xuyến nội tâm. Đó là những lo âu về tương lai, những bất an trước biến động xã hội, nỗi sợ hãi trước bệnh tật, chiến tranh, và nhất là cái chết. Những xao xuyến ấy không chỉ dừng lại ở bình diện tâm lý, nhưng còn phản ánh một khủng hoảng sâu xa hơn: con người dần đánh mất nền tảng và cùng đích của đời mình.

Chính trong bối cảnh đó, lời của Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay như một lời mời gọi đầy tính thuyết phục: “Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Đây không chỉ là một lời mời gọi mang tính an ủi tâm lý, nhưng là một định hướng thần học sâu xa: bình an đích thực chỉ có thể được thiết lập trên nền tảng của đức tin. Lời mời gọi ấy được soi sáng thêm qua kinh nghiệm của Hội Thánh sơ khai trong sách Công vụ Tông đồ (Cv 6,1-7) và giáo huấn của Thánh Phêrô về căn tính của người Kitô hữu (1Pr 2,4-9). Nhờ đó, chúng ta nhận ra một chân lý xuyên suốt: Tin vào Đức Kitô không chỉ giúp con người vượt qua xao xuyến, nhưng còn khai mở một đời sống mới: đời sống hiệp thông, hy vọng và phục vụ.

  1. Đức tin – Nền tảng của bình an

Đức Giêsu mời gọi: “Lòng các con đừng xao xuyến.” Điều đáng lưu ý là Ngài nói lời này trong một hoàn cảnh đặc biệt: các môn đệ đang đối diện với khủng hoảng, khi Thầy sắp ra đi, tương lai trở nên mịt mờ và chính niềm tin của họ bị thử thách. Như vậy, lời mời gọi “đừng xao xuyến” không được thốt lên trong hoàn cảnh thuận lợi, nhưng ngay giữa những bất ổn và lo âu. Điều đó cho thấy một chân lý quan trọng: bình an Kitô giáo không tùy thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài, nhưng là hoa trái phát sinh từ đức tin.

Chính vì thế, để đạt tới bình an ấy, con người được mời gọi bước vào một thái độ căn bản là tin tưởng và phó thác. Lời Đức Giêsu: “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1) không chỉ là một lời khích lệ, nhưng là một đòi hỏi mang tính quyết định: con người cần chuyển từ việc cậy dựa vào chính mình sang việc phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa. Theo Giáo lý Hội Thánh Công giáo, đức tin là “sự gắn bó hoàn toàn của con người với Thiên Chúa” (GLHTCG, số 150). Vì thế, đức tin không chỉ là việc chấp nhận một số chân lý, nhưng là một hành vi hiện sinh, trong đó con người trao phó toàn bộ đời mình cho Thiên Chúa.

Chính sự phó thác này giúp con người được giải thoát khỏi nỗi sợ hãi sâu xa nhất, đó là nỗi sợ mất kiểm soát. Khi con người không còn phải tự mình gánh vác tất cả, nhưng biết đặt cuộc đời mình trong tay Thiên Chúa, họ bắt đầu tìm thấy một nền tảng bình an vững chắc. Thực ra, đằng sau nỗi sợ mất kiểm soát chính là cảm thức cô đơn: con người lo sợ vì nghĩ rằng mình phải một mình đối diện với mọi bất định của cuộc đời. Nhưng đức tin mở ra một xác tín mới: đời sống của ta không nằm trong sự bấp bênh vô định, nhưng ở trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Vì thế, Bênêđictô XVI đã diễn tả cách súc tích: “Ai tin thì không bao giờ cô đơn” (SS 32).

Thực vậy, xao xuyến thường nảy sinh từ cảm thức cô đơn và bất định. Nhưng khi tin, con người khám phá ra rằng Thiên Chúa không vắng mặt. Trái lại, Ngài đang hiện diện và đồng hành trong mọi hoàn cảnh. Sự hiện diện ấy không loại trừ thử thách, nhưng làm biến đổi ý nghĩa của thử thách: từ một gánh nặng trở thành một cơ hội để tín thác và trưởng thành trong đức tin.

Kinh nghiệm của cộng đoàn Hội Thánh sơ khai được tường thuật lại trong Bài đọc I minh họa cách cụ thể điều này. Khi xảy ra những xung đột nội bộ, các Tông đồ đã không để cho lo lắng hay chia rẽ chi phối, nhưng quy hướng về Thiên Chúa qua cầu nguyện và phân định. Chính nhờ đức tin, họ đã tìm ra một giải pháp khôn ngoan, vừa bảo toàn được sứ mạng, vừa củng cố sự hiệp nhất của cộng đoàn. Nhờ đó, Hội Thánh không những không suy yếu, nhưng còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ.

Từ đó có thể khẳng định: bình an đích thực không đến từ việc loại bỏ mọi vấn đề, nhưng từ việc đặt mọi vấn đề trong ánh sáng của đức tin.

  1. Hy vọng – Đích điểm đời người

Sau lời mời gọi tin, Đức Giêsu tiếp tục mở ra cho các môn đệ một viễn tượng đầy hy vọng: “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở… Thầy đi dọn chỗ cho các con” (Ga 14,2). Lời khẳng định này không chỉ hướng về tương lai, nhưng còn mặc khải cùng đích tối hậu của đời người, đó là sự hiệp thông vĩnh cửu với Thiên Chúa. Chính việc xác định rõ đích điểm này mang tính quyết định, bởi lẽ phần lớn những xao xuyến của con người phát sinh từ sự mơ hồ về hướng đi và ý nghĩa của đời mình.

Chính trong viễn tượng ấy, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI khẳng định: “Chúng ta được cứu độ trong niềm hy vọng” (SS 1). Nói cách khác, hy vọng Kitô giáo không phải là một cảm xúc mơ hồ hay một ước vọng chủ quan, nhưng là một thực tại có nền tảng vững chắc nơi chính Đức Kitô. Ngài không chỉ loan báo về tương lai ấy, nhưng đã đi trước để mở đường và dọn chỗ cho con người, nhờ đó bảo đảm cho họ một đích đến chắc chắn trong Thiên Chúa.

Từ nền tảng thần học này, Công đồng Vatican II làm sáng tỏ chiều kích nhân học của hy vọng khi khẳng định: “Con người không thể tìm thấy chính mình cách trọn vẹn, nếu không chân thành hiến thân cho người khác” (GS 24). Thật vậy, khi biết hướng về cùng đích tối hậu là Thiên Chúa, con người đồng thời khám phá ra con đường dẫn tới đích điểm ấy chính là tình yêu tự hiến. Nhờ đó, ý nghĩa đời người không còn bị thu hẹp trong những thực tại chóng qua, nhưng được mở ra trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Ngược lại, khi khép kín nơi bản thân và tuyệt đối hóa những giá trị trần thế, con người dễ rơi vào xao xuyến, vì mọi sự nơi trần gian đều mong manh và hữu hạn.

Từ đó, hy vọng Kitô giáo không chỉ là một xác tín về tương lai, nhưng còn trở thành sức mạnh nâng đỡ đời sống hiện tại. Người Kitô hữu sống với ý thức rằng cuộc đời này là một hành trình tiến về “nhà Cha”. Nhờ đó, họ có thể đối diện với mất mát mà không tuyệt vọng, đối diện với đau khổ mà không sụp đổ, và ngay cả đối diện với cái chết mà không rơi vào sợ hãi, bởi đích điểm đời họ không bị giới hạn trong thế giới này, nhưng được bảo đảm nơi Thiên Chúa.

Chính vì thế, hy vọng Kitô giáo không tách người tín hữu khỏi thực tại, nhưng trái lại, thúc đẩy họ dấn thân giữa lòng thế giới. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh, hy vọng đích thực luôn mang chiều kích biến đổi đời sống và lịch sử (x. EG 183). Do đó, hy vọng không làm con người trở nên thụ động, nhưng giúp họ sống tự do hơn trước những xao xuyến, vì họ biết rằng cuộc đời mình có một cùng đích chắc chắn và vững bền.

  1. Đức tin – Sinh hoa trái trong hành động

Đức Giêsu không chỉ dừng lại ở lời mời gọi tin và hy vọng, nhưng còn chỉ ra hệ quả tất yếu của đức tin, đó là hành động. Ngài khẳng định: “Ai tin vào Thầy… sẽ làm những việc Thầy đã làm; người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn” (Ga 14,12). Đây là một lời xác quyết mạnh mẽ, cho thấy đức tin không phải là một thái độ nội tâm khép kín, nhưng là một năng lực sống động, có khả năng biến đổi con người và thúc đẩy họ dấn thân, làm phát sinh những thực tại mới trong đời sống cá nhân cũng như cộng đoàn.

Trong truyền thống Kinh Thánh, mối tương quan giữa đức tin và hành động luôn được khẳng định cách rõ ràng. Thánh Giacôbê nói một cách dứt khoát: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Vì thế, đức tin đích thực không thể chỉ dừng lại ở việc tuyên xưng bằng lời nói, nhưng phải được thể hiện qua những hành vi cụ thể, phản ánh sự biến đổi nội tâm của người tín hữu.

Cùng một hướng đó, Thánh Phêrô mời gọi các Kitô hữu trở nên “những viên đá sống động” để xây dựng ngôi nhà thiêng liêng là Hội Thánh (x. 1 Pr 2,5). Điều này cho thấy mỗi người không chỉ là người thụ hưởng, nhưng còn là một thành phần tích cực, có trách nhiệm góp phần xây dựng cộng đoàn. Vì thế, đức tin luôn mang chiều kích cộng đoàn và hướng đến việc kiến tạo sự hiệp thông.

Kinh nghiệm của Hội Thánh sơ khai, được thuật lại trong sách Công vụ Tông đồ, minh họa cách cụ thể nguyên lý này. Khi cộng đoàn đối diện với những căng thẳng trong việc phân phối lương thực, các Tông đồ đã không né tránh, nhưng chủ động tổ chức lại đời sống cộng đoàn, phân chia trách nhiệm và chọn bảy người để lo việc phục vụ. Quyết định ấy không chỉ mang tính quản trị, nhưng còn là một hành vi đức tin: các Tông đồ xác tín rằng Thiên Chúa tiếp tục hoạt động trong Hội Thánh qua sự cộng tác có trách nhiệm của con người. Nhờ đó, cộng đoàn không những vượt qua khủng hoảng, mà còn phát triển mạnh mẽ hơn.

Giáo huấn của Công đồng Vatican II tiếp tục khẳng định vai trò của mỗi tín hữu trong đời sống Hội Thánh và thế giới: “Người giáo dân… được mời gọi góp phần vào việc thánh hóa trần gian” (LG 31). Đức Giáo hoàng Phanxicô cũng nhấn mạnh rằng: “Đức tin chân chính vào Con Thiên Chúa nhập thể không thể tách rời khỏi việc tự hiến, khỏi việc thuộc về cộng đoàn, khỏi việc phục vụ” (EG 88).

Như vậy, đức tin tự bản chất luôn mang chiều kích năng động và dấn thân; khi được cụ thể hóa trong đời sống yêu thương, phục vụ và xây dựng cộng đoàn, đức tin không chỉ giúp con người vượt qua những xao xuyến nội tâm, mà còn làm cho họ trở thành khí cụ mang lại bình an và hy vọng cho người khác.

Kết luận

Như vậy, sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi Kitô hữu thực hành những định hướng rất cụ thể.

Trước hết, hãy sống đức tin như một sự phó thác mỗi ngày. Đức tin không dừng lại ở lời tuyên xưng, nhưng được thể hiện qua việc trao phó những lo lắng cụ thể cho Chúa trong cầu nguyện. Mỗi khi xao xuyến, người tín hữu được mời gọi trở về với Chúa, đặt đời mình trước sự hiện diện của Ngài.

Tiếp đến, hãy nuôi dưỡng niềm hy vọng bằng một đời sống hướng thượng. Người tín hữu không tuyệt đối hóa những thực tại trần gian, nhưng biết nhìn mọi biến cố trong ánh sáng đời đời, ý thức rằng tất cả chỉ là hành trình tiến về “nhà Cha”.

Hơn nữa, cần biến đức tin thành hành động cụ thể. Đức tin phải được diễn tả qua đời sống bác ái, phục vụ và xây dựng cộng đoàn. Mỗi người được mời gọi trở thành “viên đá sống động”, góp phần xây dựng sự hiệp nhất và yêu thương.

Sau cùng, hãy trở nên chứng nhân của bình an giữa một thế giới đầy xao xuyến. Người Kitô hữu không sống trong hoang mang, nhưng trở thành dấu chỉ của niềm tin, hy vọng và bình an. Chính đời sống bình an ấy là một lời loan báo Tin Mừng sống động.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đặt trọn niềm tin nơi Chúa, không chỉ bằng lời nói nhưng bằng chính đời sống phó thác mỗi ngày. Giữa những lo âu và bất an, xin dạy chúng con luôn biết quay về với Chúa, Đấng là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống của chúng con. Xin giúp chúng con vững lòng hướng về Chúa trong mọi hoàn cảnh, để vượt qua những xao xuyến của cuộc đời và bước đi trong bình an, niềm hy vọng và tình yêu. Amen.

Có thể bạn quan tâm