Đồng hành với các gia đình trong bối cảnh hiện nay – Bài 3. Đồng hành với “gia đình” những người ly dị tái hôn

172

“Gia đình” những người ly dị tái hôn được bàn đến ở đây là thực thể được tạo thành bởi hôn nhân dân sự của một người nam và một người nữ Công giáo hoặc có một người là Công giáo, sau khi đã ly dị ở tòa đời với người phối ngẫu đã kết hôn thành sự. Hôn nhân này không thành sự, và do đó, thực thể này không được kể là gia đình cơ bản đúng nghĩa, bởi lẽ, gia đình cơ bản là thực thể được tạo thành bởi sự kết hợp giữa người nam và người nữ trong hôn nhân cùng với con cái họ.[1]

Những thống kê gần đây khiến ta không khỏi giật mình khi con số các cặp vợ chồng ly dị tăng đột biến, trong đó có cả người Công giáo. Và kinh nghiệm thường ngày cho thấy không ít người, sau khi ly dị, đã tiến đến một cuộc hôn nhân mới, tất nhiên nó chỉ hợp pháp về phía dân sự. Một số người trong họ hoàn toàn xa lánh Giáo hội và hầu như sống cách thờ ơ, dửng dưng với đời sống đức tin; một số khác không hoàn toàn ý thức về việc kết hợp mới của mình là chống lại ý Thiên Chúa; một số khác dù biết mình đang sống nghịch lại với Tin mừng và tâm hồn họ bất an mà vẫn khao khát tiếp tục sống đời Kitô hữu theo cách của họ, nhiều khi còn bày tỏ lòng khao khát được tham dự tích cực vào đời sống của Giáo hội, các phương diện ân sủng của Giáo hội… Đây là một thực tế đầy nhức nhối và đang ngày càng lan rộng. Vì thế, Giáo hội là Mẹ của mọi tín hữu, cần phải quan tâm giúp đỡ những người và những “gia đình” đang sống trong tình trạng này bằng một sự đồng hành hết sức khôn ngoan.[2] 

Trước hết, Giáo hội không ngừng nhìn nhận và tái khẳng định rằng việc ly dị tái hôn là ngược với Tin mừng, với đòi hỏi của hôn nhân là duy nhất và bất khả phân ly; sự kết hợp mới của họ không thể cắt đứt dây hôn phối thứ nhất, và tự mình đi ngược lại với giáo huấn của Chúa (x. Lc 16,18; Mc 10,11-12; 1 Cr 7,10-11).[3] Tuy nhiên, với ý thức mình được thiết lập để đưa dẫn mọi người đến ơn cứu độ, cách riêng những người đã chịu phép Rửa tội, Giáo hội cũng không thể bỏ mặc những người đã được kết hợp trong dây hôn phối, nay lại đang kết hôn với người khác. Vì thế, Giáo hội, người thầy mang trong mình tâm hồn của người mẹ; một tâm hồn mà khi được soi sáng bởi Thần Khí, luôn luôn cảm thương, tìm kiếm điều tốt lành và ơn cứu độ cho con cái, luôn cố gắng không biết mệt mỏi để đem các phương tiện cứu rỗi của mình cho họ sử dụng.[4] Dĩ nhiên, khi thực hành như vậy, chúng ta cần tránh coi mục vụ như đối ngược lại với giáo luật, phải nghĩ rằng lòng yêu mến chân lý là điểm gặp gỡ căn bản giữa lề luật và mục vụ. Chân lý này không bao giờ là một điều thuần túy trừu tượng, nhưng phải đi vào cuộc sống nhân bản và Kitô giáo của mọi tín hữu.[5]

Điều này đòi hỏi một sự đón nhận đầy tình thương, sự đồng hành khôn ngoan và  tế nhị của các vị mục tử và của cộng đoàn tín hữu để hiểu rõ từng cảnh ngộ. Nhờ vậy, chúng ta mới có được một sự phân định chính xác hơn từng hoàn cảnh mà thực tế cho thấy không hoàn toàn giống nhau cũng không hoàn toàn đáng trách. Chúng ta không thể “phân loại xếp hạng mục hoặc khép họ vào những phạm trù quá cứng nhắc đến nỗi không còn chỗ cho một phân định cá nhân hay mục vụ phù hợp.”[6] Quả thực, có những người tiến đến một sự kết hợp mới sau khi đã cố gắng hết sức để cứu vãn hôn nhân trước và đã bị người phối ngẫu bỏ rơi cách bất công; có người tái hôn sau khi đã phá hủy hôn nhân trước bằng chính lỗi lầm nặng nề của mình; có người đi đến sự kết hợp mới chỉ nhằm giáo dục con cái; có người tái hôn vì từ lương tâm họ tin cách khách quan rằng hôn nhân trước chưa bao giờ thành sự…[7]

Sự phân định này đòi hỏi chúng ta phải chú ý đến các yếu tố giảm khinh trong phân định mục vụ[8] cũng như các quy luật phân định.[9] Phân định cũng phải luôn luôn dựa trên cơ sở đạo lý nhưng cũng cần tránh những phán đoán hời hợt không để ý đến sự phức tạp của những hoàn cảnh hay sự đau khổ vì hoàn cảnh.[10] Với một sự cẩn trọng như thế, chúng ta mới có thể tìm ra được những phương cách đồng hành phù hợp và hiệu quả.

Với những trường hợp mà khả thể phục hồi hôn nhân trước là điều có thể thấy được, chúng ta cần mời gọi và giúp họ chấm dứt tình trạng “trái quy tắc” hiện tại mà tái hợp hôn nhân đã thành sự trước đó, nhờ vậy, được sống sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội và với ân sủng. Có những trường hợp mà việc phân ly sự kết hợp hiện tại không gây ra những hệ quả nghiêm trọng thì cũng cần giúp họ chọn lối sống diễn tả được tính duy nhất và bất khả phân ly của hôn nhân Kitô giáo. Còn nếu có nghi ngờ việc thành sự của dây hôn phối đã ký kết, ta cần giúp họ tiến hành thủ tục điều tra để có thể đi đến tuyên bố hôn nhân vô hiệu theo hướng dẫn của Giáo hội.[11]

Với những trường hợp còn lại, vì những lý do khác nhau, cũng có thể là lý do hệ trọng,[12] họ không thể chấm dứt cuộc hôn nhân hiện tại, thì các mục tử và cộng đoàn Giáo hội phải đồng hành với họ cách đầy lưu tâm, đặc biệt là chăm sóc những người yếu đuối nhất,[13] trong niềm hy vọng vào lý tưởng hôn nhân Kitô giáo. Trên thực tế, có những kết hợp mới đã ổn định theo thời gian, với những đứa con, chứng tỏ có sự trung thành, có sự cống hiến quảng đại, dấn thân sống đức tin Kitô giáo, ý thức tình trạng bất qui tắc của mình và rất khó quay trở lại mà lương tâm không cảm thấy rằng mình không thể tránh khỏi lại rơi vào những sai lỗi mới…,[14] Giáo hội phải tìm cách để đón tiếp, đồng hành và hội nhập họ vào đời sống cộng đoàn.

Trước hết, Giáo hội mời gọi các chủ chăn và toàn thể cộng đoàn tín hữu, bằng một lòng bác ái rộng lớn, với sự đón nhận và đồng hành cách gần gũi, khôn ngoan và tôn trọng, phải làm sao để những người ly dị tái hôn cảm thấy rằng họ vẫn là thành phần của Giáo hội, không bị rút phép thông công và không bị đối xử như vậy. Phải cho họ thấy rằng không những họ có thể mà còn phải dự phần vào đời sống Giáo hội nữa.[15] Vì thế, chúng ta cần phải tránh mọi kiểu nói và thái độ làm cho họ cảm thấy bị kỳ thị, tránh những hình thức xét đoán, lãnh đạm hoặc bỏ rơi hay chỉ giới hạn việc mục vụ của mình đối với họ vào vấn đề có nên cho lãnh nhận các bí tích hay không mà thôi; nhưng cần khuyến khích và hội nhập họ vào đời sống cộng đoàn.

Cộng đoàn Kitô hữu cần xem họ như thành phần của mình và đối xử với họ bằng tình mẫu tử, cầu nguyện cho họ, khuyến khích và hỗ trợ họ trong đức tin và lòng cậy trông, không mệt mỏi soi sáng cho họ bằng Lời Thiên Chúa, thôi thúc họ đến một cuộc sống luân lý theo đức ái cao cả, mời gọi họ đến với sự hoán cải. Với tất cả sự tế nhị và với những cơ hội có được, như khi họ xin rửa tội cho con cái, gia đình họ có tang chế hoặc có người ốm đau, các mục tử, thân nhân, các tác viên mục vụ và cộng đoàn nên gần gũi họ và bắt đầu việc đối thoại để có thể soi sáng cho họ biết về lập trường của Giáo hội đối với họ, không che giấu họ về sự thật của hoàn cảnh họ đang sống, đồng thời cũng làm chứng một tình bác ái chân thành.[16]

Ngoài ra, chúng ta cũng cần khuyến khích họ tham gia vào đời sống của cộng đoàn cách tích cực bao nhiêu có thể, như việc lắng nghe Lời Chúa, tham dự phụng vụ, kiên trì cầu nguyện, góp phần vào các công cuộc bác ái, dấn thân cho công lý và hoà bình, giáo dục con cái trong đức tin Kitô giáo…[17]

Một sự hội nhập như thế, trong khi tránh mọi dịp gây gương xấu, là chìa khóa cho việc đồng hành mục vụ, để giúp họ không những biết mình thuộc về Thân thể Chúa Kitô mà còn có thể có một kinh nghiệm thuộc về Giáo hội tràn đầy niềm vui và sinh nhiều hoa trái. Họ là những người đã được rửa tội, là anh chị em, những người Chúa Thánh Thần đổ xuống muôn vàn ơn huệ và đặc sủng vì thiện ích của mọi người. Họ có thể tham gia vào nhiều việc phục vụ khác nhau trong Giáo hội. Do đó, cần phân định xem có thể vượt qua những hình thức loại trừ nào đang được thi hành trong lãnh vực phụng vụ, mục vụ, giáo dục và cơ chế. Không những không được làm cho họ cảm thấy bị xa lìa Giáo hội, mà còn phải làm cho họ cảm thấy có thể sống và trưởng thành như những thành viên sống động của Giáo hội, cảm thấy Giáo hội như một người Mẹ luôn đón nhận họ, ân cần trìu mến chăm sóc họ và khích lệ họ trên hành trình cuộc sống. Việc hội nhập này cũng cần thiết cho việc chăm sóc và giáo dục đức tin Kitô giáo cho con cái họ, là những đối tượng phải được xem là quan trọng nhất.[18]

Thật vậy, làm sao chúng ta có thể khuyên các người cha người mẹ này làm tất cả để giáo dục con cái trong đời sống đức tin Kitô giáo và cho họ mẫu gương về một đức tin xác quyết và thực hành, trong khi chúng ta lại để cho họ xa cách đời sống của cộng đoàn, như thể họ đã bị tuyệt thông? Ta phải làm cách nào để tránh không bồi thêm những gánh nặng khác ngoài gánh nặng con cái mà họ phải mang vác, trong những hoàn cảnh này. Giúp chữa lành các vết thương của cha mẹ và tiếp nhận họ về mặt thiêng liêng cũng là điều tốt ngay cả cho những đứa con; tất cả họ cần nhìn thấy dung mạo gia đình của Giáo hội tiếp đón họ qua kinh nghiệm thương đau này.[19]

Chăm sóc cho những người như thế không những không làm cho đức tin của cộng đoàn và việc làm chứng cho sự bất khả phân ly của hôn nhân bị suy yếu đi, mà ngược lại, chính trong sự chăm sóc này mà cộng đoàn thể hiện đức ái của mình.[20] Chỉ cách này, Giáo hội mới có thể tiếp nhận các tội nhân, quan tâm chào đón và mời gọi họ tham gia vào một hành trình cụ thể, nhờ vậy, họ có thể vượt qua tội lỗi.[21]

Dĩ nhiên, sự quan tâm và chăm sóc mục vụ này không bao hàm việc cử hành bất cứ nghi thức hôn phối nào cho những người ly dị tái hôn như Giáo hội đã căn dặn, bởi lẽ, một cử hành như thế sẽ làm cho người ta lầm tưởng là “hôn nhân” mới này thành sự, và như thế sẽ đưa người ta đến chỗ hiểu sai lạc về sự bất khả phân ly của hôn nhân Kitô giáo.[22] Cùng với đó, vì tình trạng “trái quy tắc” của mình, họ cũng không được đảm nhận một số trách nhiệm trong Giáo hội như đọc sách thánh trong phụng vụ, làm giáo lý viên hay hội đồng mục vụ, đỡ đầu trong các bí tích…[23]

Hơn nữa, yếu tố quan trọng đầu tiên đối với cuộc đồng hành là sự hài hòa giữa việc cử hành bí tích và đời sống Kitô hữu. Đây là lý do của kỷ luật Thánh Thể mà Giáo hội đã duy trì kể từ thời sơ khai. Nhờ kỷ luật đó, Giáo hội có thể là một cộng đoàn đồng hành và đón tiếp các tội nhân mà không chúc lành cho tội lỗi, và do đó cung cấp cơ sở làm cho con đường của sự phân định và hội nhập là có thể. Kỷ luật này được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II xác định cách rõ ràng trong Tông huấn Familiaris Consortio – số 84, và Reconciliatio Poenitentia – số 34; Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo – số 1650 tái xác nhận; Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, đến lượt mình, cũng đã xác định điều đó trong tài liệu Mục vụ cho Người Ly dị Tái hôn, năm 1994; Đức Thánh cha Bênêđictô XVI khai triển trong Sacramentum Caritatis, số 29. Đó là một giáo huấn chắc chắn, có nền tảng Kinh thánh và dựa trên một lý do đạo lý: sự hài hòa mang ơn cứu độ của các bí tích, trái tim của “văn hóa hôn ước” làm sống động Giáo hội. Và đến nay, giáo huấn đó không có gì thay đổi.[24]

Trong Tông huấn Familiaris Consortio, Thánh Gioan Phaolô II xác quyết:

“Hội thánh vẫn xác nhận lại kỷ luật của mình, kỷ luật xây dựng trên Thánh kinh, theo đó, Hội thánh không thể chấp nhận cho những người ly dị tái hôn được hiệp thông Thánh Thể. Họ đã tự làm cho mình trở nên mất đi khả năng dự phần vào đó vì tình trạng của họ và vì điều kiện sống của họ mâu thuẫn một cách khách quan với sự hiệp thông yêu thương giữa Đức Kitô và Hội thánh như nó vẫn được diễn tả và hiện tại hoá trong phép Thánh Thể. Ngoài ra còn có một lý do mục vụ đặc thù khác: nếu chấp nhận cho những người ấy được rước lễ, điều đó sẽ khiến các tín hữu đi tới chỗ sai lạc, hiểu lầm giáo lý của Hội thánh về sự bất khả phân ly của hôn nhân.”[25]

Dĩ nhiên, cánh cửa hiệp thông này không hoàn toàn đóng lại. Nó có thể được mở ra khi hội đủ các điều kiện như luật đòi buộc:

“Việc giao hoà bằng Bí tích Thống Hối – là Bí tích mở đường cho Bí tích Thánh Thể – chỉ có thể được ban cho những người biết hối hận vì đã phạm đến dấu hiệu của giao ước và của sự trung thành với Đức Kitô, và thành thật sẵn lòng chấp nhận một hình thức sống không còn mâu thuẫn với sự bất khả phân ly của hôn nhân nữa. Nói như thế là mặc nhiên cho rằng, khi có những lý do hệ trọng – chẳng hạn để làm gương và giáo dục con cái – người nam và người nữ không thể xa lìa nhau như luật buộc, thì họ có thể quyết tâm sống hoàn toàn tiết dục, nghĩa là tránh hẳn những hành vi dành riêng cho vợ chồng.”[26]

Ngoài ra:

“Khi hoàn cảnh của họ không thể có một khả năng chuyển hồi thật sự vì tuổi tác hoặc ốm đau của một trong hai người, có con cái cần được giúp đỡ và giáo dục hoặc những lý do tương tự, Giáo hội có thể cho họ xưng tội và rước lễ nếu thống hối cách thật lòng và đoan hứa khước từ đời sống tính dục và trở nên như tình bạn, tôn trọng và giúp đỡ nhau. Trong trường hợp đó, họ có thể lãnh nhận Bí tích Hòa Giải và được rước lễ trong một nhà thờ nơi không ai biết họ để tránh gương xấu.”[27]

Tại Giáo phận Vinh, những người ly dị tái hôn có thể được xưng tội với điều kiện:

“- Hoặc họ đã ly thân;

– Hoặc họ vẫn sống chung, vì hoàn cảnh đặc biệt không thể đảo ngược, hoặc đã cao niên, hoặc bệnh tật, hoặc còn con cái nhỏ tuổi cần cha mẹ giáo dục, nhưng họ đã quyết tâm sống hoàn toàn tiết dục, nghĩa là chấm dứt những quan hệ xác thịt và cư xử với nhau như bạn hữu, trong sự kính trọng và giúp đỡ lẫn nhau. Trong trường hợp này, họ phải làm đơn bày tỏ sự sám hối chân thành, nghĩa là ý thức việc mình cắt đứt dây hôn phối và tái hôn là một tội trọng, đồng thời nói lên quyết tâm chấm dứt sự chung sống vợ chồng và biến tương quan vợ chồng thành tương quan bạn hữu, kính trọng và giúp đỡ lẫn nhau. Cha xứ là người thẩm tra thực tế, ấn ký chứng nhận đơn xin của đương sự và quyết định cho họ được xưng tội rước lễ hay không.”[28]

Như vậy, trong mọi trường hợp, các mục tử được mời gọi ân cần tiếp đón, đồng hành khôn ngoan, phân định cẩn trọng từng trường hợp của hối nhân là những người ly dị tái hôn. Cần giúp cho những này khi muốn lãnh nhận các bí tích hiểu được ý nghĩa sâu xa về thái độ của Giáo hội đối với họ không phải là việc phân biệt đối xử nhưng là thái độ tôn trọng mọi người và mọi giá trị liên hệ, nhất là lòng trung thành của Giáo hội với Tin mừng. Kế đến, cần đồng hành với họ để xét xem họ có hội đủ những điều kiện để được xưng tội và qua đó được hiệp thông Thánh Thể như luật buộc hay không. Khi hội đủ điều kiện, cần giúp họ được xưng tội và rước lễ như nguyện vọng của họ, trong khi cũng xét đến những lợi ích mục vụ khác nữa.

Trong trường hợp họ không được rước lễ, các mục tử cũng nên ân cần mời gọi họ đến với sự hoán cải và luôn luôn hy vọng vào ơn Chúa, Vị Thẩm Phán duy nhất của lương tâm. Cũng cần nói cho họ biết rằng, dù không được hiệp thông Thánh Thể, họ vẫn không hề đơn độc, Giáo hội là một cộng đoàn của sự cứu rỗi luôn đồng hành với họ. Rõ ràng, việc chăm sóc mục vụ cho người ly dị tái hôn không được giảm thiểu vào vấn đề lãnh nhận Thánh Thể, nhưng phải mở rộng hơn nhiều, và tìm cách đánh giá đúng đối với các tình huống khác nhau. Điều quan trọng là nhận ra rằng ngoài việc rước lễ còn có những cách thức khác nữa để ở trong mối tương giao bằng hữu với Thiên Chúa. Người ta có thể đến với Thiên Chúa bằng cách chạy đến với Người trong đức tin, đức cậy và đức mến, trong sám hối và cầu nguyện. Thiên Chúa có thể ban ơn cứu rỗi cho con người bằng nhiều cách khác nhau, ngay cả khi con người thấy mình đang sống đối nghịch với ơn cứu rỗi.[29]

Ánh nhìn của Đức Kitô, là ánh sáng chiếu soi mọi người (x. Ga 1,9), sẽ gợi hứng cho Giáo hội trong việc chăm sóc mục vụ cho các tín hữu đã ly dị tái hôn. Trong viễn tượng của khoa sư phạm thần linh, Giáo hội yêu thương hướng đến những ai tham dự vào đời sống của Giáo hội một cách không hoàn hảo: Giáo hội cùng với họ cầu xin ơn hoán cải, khích lệ họ làm điều thiện, nhắc họ ân cần yêu thương chăm sóc lẫn nhau và phục vụ cộng đồng nơi họ sinh sống.[30]

Kết luận

Gia đình trong bối cảnh ngày nay tựa như một bức tranh đa màu với nhiều trạng huống khác nhau cùng muôn vàn khó khăn không ngừng vây hãm. Điều này đặt ra một thách đố không nhỏ cho Giáo hội trong công tác mục vụ gia đình, cách riêng là mục vụ đồng hành, vốn đòi hỏi sự khôn ngoan, kiên nhẫn và tế nhị.

Tuy nhiên, trong mọi hoàn cảnh, Giáo hội mà cụ thể là các vị mục tử và cộng đoàn tín hữu cũng như mọi tín hữu được mời gọi đồng hành, chăm sóc các gia đình, vốn là tế bào, là nền tảng của Giáo hội và xã hội. Nhiệm vụ này không thể giới hạn vào một vài gia đình cụ thể nhưng là với mọi gia đình trong mọi trạng huống của nó. Sẽ là ảo tưởng nếu chúng ta mong đợi một giải pháp chung và dứt khoát để áp dụng cho mọi hoàn cảnh cũng như mọi trạng huống của gia đình.[31] Vì thế, trong việc đồng hành với các gia đình, chúng ta luôn luôn cần đến một sự phân định, để với từng tình trạng, từng hoàn cảnh, ta có được một giải pháp mục vụ khả dĩ nhất.

Những gì chúng ta bàn đến trên đây chưa phải đã bao quát hết mọi thể dạng, mọi hoàn cảnh, mọi trạng huống của gia đình, dù chỉ là trong phạm vi giáo xứ; nhưng chỉ là những thực thể đặc trưng đang cần được ưu tiên trong mục vụ. Đó là các gia đình trẻ với sự cần thiết phải được đồng hành để vượt qua rất nhiều khó khăn thường có của buổi đầu đời sống hôn nhân; đó là các gia đình gặp khó khăn có thể do chính tình trạng của nó hay do hoàn cảnh, đang cần đến sự tương trợ của Giáo hội; và đó là “gia đình” những người ly dị tái hôn, một trường hợp “trái quy tắc” đang rất thời sự trong mối bận tâm mục vụ của Giáo hội hiện nay.

Hơn nữa, những phương thức, giải pháp mục vụ được gợi ra trên đây chỉ dám mong là các đề nghị trong ý thức rằng, không phải là điều dễ dàng để đưa ra các giải pháp cụ thể. Chúng ta cũng cần lưu ý rằng, Giáo hội không thể giải quyết mọi tình tiết của cuộc sống, đồng thời Giáo hội tránh thái độ tách bạch hay đối nghịch giữa đạo lý và mục vụ, hay nói cách khác hoặc chỉ lo khăng khăng bảo vệ đạo lý bất chấp hoàn cảnh con người cụ thể hoặc chỉ lo con người không màng đến cơ sở đạo lý.[32]

Giáo huấn của Giáo hội mời gọi các mục tử và các tín hữu tiếp cận các gia đình cách đa diện hơn, hiện sinh hơn khi biết chú ý đến các hoàn cảnh đầy khó khăn của những con người cụ thể trong hành trình tiệm tiến đến sự hoàn thiện Kitô giáo. Khi tiếp cận như vậy, người mục tử cần có một sự canh tân mục vụ thực sự với sự uyển chuyển nhất định trong khuôn khổ đạo lý. Chúng ta phải biết đồng hành và phân định để giúp họ không phải chọn điểm đến cho bằng chọn lối đi, chọn con đường tiến bước. Đó là con đường mà Đức Giêsu đã hướng dẫn, đã đi và mời gọi chúng ta bước theo để đạt tới sự hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện (x. Mt 5,48).[33]

Lm. Phaolô Lê Văn Hùng

[1] X. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 2202.
[2] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 84.
[3] X. Bộ Giáo lý Đức tin, Mục vụ cho những Người Ly dị Tái hôn, số 16, trong Âugustinô Nguyễn Văn Dụ, Hướng dẫn Mục vụ Gia đình, 247.
[4] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 84.
[5] X. Bênêđictô XVI, “Tông huấn Sacramentum Caritatis,” 2007, số 29, http://catechesis.net, truy cập 20/02/2018.
[6] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 298.
[7] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 84.
[8] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 301-303.
[9] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 304-306.
[10] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia số 296, 300 – 301.
[11] Ngày 12/8/2015, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã ban hành Tự sắc Mitis Judex Dominus Jesus (Chúa Giêsu Thẩm Phán Nhân Từ) nhằm canh tân thủ tục tuyên bố hôn nhân vô hiệu, theo đó, các điều 1671 đến 1691 của Bộ Giáo luật hiện hành sẽ được thay thế bằng 21 điều quy định mới của Tự sắc này. Cuối Tự sắc có kèm theo bản những nguyên tắc hướng dẫn thủ tục tiến hành. Đáng chú ý, trong Tự sắc, ở khoản 14, trong phần những nguyên tắc hướng dẫn thủ tục thi hành có nêu một số những trường hợp về sự việc và người có thể cho phép tiến hành vụ án tuyên bố hôn nhân vô hiệu bằng thủ tục ngắn gọn hơn, chẳng hạn: Người thiếu đức tin khiến có thể nảy sinh gian ý hay lầm lẫn chi phối ý chí; Thời gian chung sống vợ chồng quá ít; Phá thai có hiệu quả để tránh không sinh con; Ngoan cố duy trì một quan hệ khác trong thời gian kết hôn hay ngay sau đó; Cố tình giấu tình trạng vô sinh hay một bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng hay dấu đã có con do một quan hệ trước đó hay đã từng bị tù; Kết hôn vì lý do xa lạ đời sống vợ chồng hay kết hôn chủ yếu chỉ vì người nữ đã lỡ có thai trước; Bạo lực thể lý để ép buộc bên kia ưng thuận; Thiếu sử dụng trí khôn có chứng nhận của bác sĩ, v.v… Ở đây, Tự sắc chỉ kể ra một loạt về sự kiện và về con người, nhưng không phải chỉ giới hạn bao nhiêu đó mà thôi, Tự sắc còn để ngỏ một số sự việc khác có thể xét theo thủ tục này. Lưu ý rằng Tự sắc không khẳng định đây là chứng cớ hay lý do để tuyên bố hôn nhân bất thành. (X. Giuse Huỳnh Văn Sỹ, “Vấn đề Hôn nhân Đồng tính và Ly dị Tái hôn theo Amoris Laetitia” (Tài liệu Thường huấn Linh mục Gp. Quy Nhơn 2016), 2017, http://hddmvn.net, truy cập 15/3/2018).
[12] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 84; Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 298.
[13] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 291.
[14] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 298.
[15] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 243.
[16] X. Bộ Giáo lý Đức tin, Mục vụ cho những Người Ly dị Tái hôn, số 19, trong Âugustinô Nguyễn Văn Dụ, Hướng dẫn Mục vụ Gia đình, 251.
[17] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 84.
[18] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 299.
[19] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 246.
[20] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 243.
[21] X. Gerhard Muller, Bài Thuyết trình tại Chủng viện Oviedo – Tây Ban Nha, ngày 4/5/2016, trong Giuse Nguyễn Ngọc Huỳnh, “Giáo hội và Nỗi đau của những Người Ly dị Tái hôn,” 2017, http://chuacuuthe.com, truy cập 20/3/2018.
[22] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 84.
[23] X. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 1065.
[24] X. Gerhard Muller, Bài Thuyết trình tại Chủng viện Oviedo – Tây Ban Nha, ngày 4.5.2016, trong Giuse Nguyễn Ngọc Huỳnh, “Giáo hội và Nỗi đau của những Người Ly dị Lái hôn,” 2017, http://chuacuuthe.com.
[25] Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 84.
[26] Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 84.
[27] Bộ Giáo lý Đức tin, Mục vụ cho những Người Ly dị Tái hôn, số 28, trong Âugustinô Nguyễn Văn Dụ, Hướng dẫn Mục vụ Gia đình, 255-256.
[28] Giáo phận Vinh, Kim Chỉ nam, (Lưu hành Nội bộ, 2018), điều 280.
[29] X. Minh Đức, “Chăm sóc Mục vụ cho Người Ly dị Tái hôn: Không chỉ là vấn đề Rước lễ,” 2013, http://tgpsaigon.net, truy cập 15/3/2018.
[30] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 78.
[31] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 300.
[32] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 2 – 3.
[33] X. Giuse Huỳnh Văn Sỹ, “Vấn đề Hôn nhân Đồng tính và Ly dị Tái hôn theo Amoris Laetitia,” 2017, https://hddmvn.net.