Đồng hành với các gia đình trong bối cảnh hiện nay – Bài 2. Đồng hành với các gia đình gặp khó khăn

385

Nếu việc đồng hành với các gia đình luôn là điều cần thiết, thì lại càng khẩn thiết hơn đối với các gia đình đang gặp những khó khăn, phức tạp, vì đối với những gia đình ấy, Giáo hội cần có một lời nói của sự thật, của nhân hậu, của cảm thông, của hy vọng, chia sẻ sâu xa với những khó khăn lắm khi bi đát của họ: Giáo hội muốn cống hiến cho họ một sự giúp đỡ vô vị lợi để họ có thể đến gần với mẫu gia đình mà Đấng Tạo Hóa đã muốn ngay từ khởi đầu và Đức Kitô đã canh tân bằng ân sủng cứu chuộc của Người.[1] Cần phải có một nỗ lực mục vụ quảng đại, thông minh, khôn khéo, theo gương vị Mục Tử Nhân Lành, khi dấn thân làm mục vụ cho các gia đình đang đối đầu với những khó khăn thật sự, thường ngoài ý muốn hoặc do những đòi hỏi khác nhau.[2]

1. Đồng hành với gia đình có người phối ngẫu tân tòng hoặc ngoài Công giáo

Khi thế giới diễn ra quá trình công nghiệp hóa và dân số tăng lên, những dòng người từ các vùng kém phát triển đổ về các khu vực phát triển; tình trạng nghèo đói, thất học, thiếu thốn phương tiện sống, khiến nhiều người phải rời khỏi các vùng nghèo khổ để kiếm sống; đã mang đến cho cả nam lẫn nữ một môi trường giao tiếp cởi mở và rộng rãi hơn. Cùng với đó, tại Á châu, người Công giáo chỉ chiếm 2,4% dân số; tại Việt Nam, tỷ lệ nhiều hơn chút ít nhưng cũng chỉ hơn 7%, riêng Giáo phận Vinh, tỷ lệ này là khoảng 10%. Với tỷ lệ người Công giáo khá thấp như thế, lại sống rải rác, xen lẫn với những người ngoại đạo, nên việc các bạn trẻ Công giáo tiếp xúc, yêu và kết hôn với người ngoài Công giáo là chuyện dường như không thể tránh khỏi, thậm chí là một xu thế tất yếu.

Tuy nhiên, thực tế đã và đang cho thấy những phức tạp và khó khăn nơi những cuộc hôn nhân này, không chỉ nguy hại đến đức tin của những người Công giáo mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hạnh phúc gia đình. Từ thực tế đó, nhiều mục tử và nhất là cha mẹ của người phối ngẫu Công giáo tỏ ra dè dặt, quan ngại và thậm chí là phản đối, cấm cách, cả khi người ngoại đạo chấp nhận trở lại Công giáo cũng chưa mang đến một sự yên tâm.

Ở đây, chúng ta không bàn đến những thách đố cũng như việc chuẩn bị hôn nhân cho những đôi bạn này, vốn rất khó khăn, phức tạp với nhiều đòi hỏi về pháp lý và mục vụ, và rất quan trọng, đến độ nó quyết định phần nhiều đến tương lai gia đình của đôi bạn; chúng ta chỉ bàn đến việc đồng hành của Giáo hội đối với gia đình họ mà thôi.

a. Đồng hành với gia đình có người phối ngẫu là tân tòng

Có lẽ, điều mong muốn thông thường nhất của các cha mẹ và những người liên hệ là con cái mình kết hôn với người Công giáo. Vì thế, khi có con muốn kết hôn với người ngoại đạo, họ cũng mong người này trở lại Công giáo, bởi lẽ trường hợp này ít rủi ro hơn hôn nhân khác tôn giáo. Tuy nhiên, những khó khăn, nguy hiểm vẫn chực chờ gia đình mới này, nhất là khi người ngoại ấy là nam, bởi quan niệm “xuất giá tòng phu” vẫn còn in đậm, và tệ hơn nữa là sống xa cách môi trường Công giáo. Chính vì thế, ngoài việc chuẩn bị hôn nhân một cách kỹ lưỡng và chu đáo, thì còn rất cần đến một sự đồng hành sát sao, liên lỉ và hiệu quả của nhiều người.

Nhiệm vụ trước nhất thuộc về chính đôi bạn và gia đình, họ tộc hai bên, nhất là bên Công giáo. Từ việc cộng tác làm sao để đôi bạn có được một sự chuẩn bị tốt nhất trước khi bước vào đời sống hôn nhân, cho đến việc tiếp nhận, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để người tân tòng có cơ hội được lớn lên trong đức tin cũng như hòa nhập vào đại gia đình và cộng đoàn. Thường thì khi một người kết hôn với người ngoại đạo, phản ứng đầu tiên của thân nhân là phản đối. Từ thái độ này tạo ra một khoảng cách nhất định, thậm chí là ác cảm. Do đó, một khi đã chấp nhận thì thân nhân phải vượt qua thái cực này để tạo được một không gian gần gũi, một sự tiếp đón và hội nhập để tạo cho người tân tòng một điểm tựa đầu tiên. Rồi khi đôi bạn đã kết hôn, nếu đôi bạn không sống cùng bố mẹ Công giáo trong thời gian đầu thì cũng nên khuyên họ định cư trong vùng có người Công giáo, nhất là gần với những thân nhân Công giáo, để dễ tìm được sự nâng đỡ, nhất là khi gặp khó khăn, khủng hoảng. Gia đình và dòng tộc cần tiếp nhận và đùm bọc, nâng đỡ gia đình mới này, nhất là làm gương sáng, năng thăm viếng và giúp gia đình họ cầu nguyện chung trong gia đình, nhắc họ siêng năng tham dự thánh lễ và lãnh nhận các bí tích, nhắc người phối ngẫu gốc Công giáo phải cố gắng sống đức tin cách trưởng thành, giúp người tân tòng tiếp tục đào sâu học hỏi giáo lý; nhắc họ cố gắng sống chứng nhân niềm tin cho những người chưa biết Chúa, nhất là cho thân nhân của người tân tòng.

Ngoài sự nỗ lực của đôi vợ chồng và các thân nhân thì cộng đoàn giáo họ, giáo xứ, các đoàn thể cũng đóng vai trò rất quan trọng. Họ cần phải hội nhập gia đình này vào cộng đoàn, mời gọi và tạo những điều kiện thuận lợi cho họ tham gia vào các sinh hoạt chung. Đừng bao giờ để họ cô đơn, lạc lõng. Tổ liên gia hãy liên đới, quan tâm, chăm sóc họ. Nên mời người tân tòng tham gia vào hội đoàn, đoàn thể, cũng rất nên cho họ đảm nhận một nhiệm vụ nào đó trong cộng đoàn như ca đoàn, huynh trưởng, ban an ninh… để người đó được hội nhập dễ dàng hơn. Phải làm sao để họ cảm thấy được mình là thành viên chính thức của cộng đoàn, “trọn vẹn thuộc về” cộng đoàn. Các cha xứ cũng nên quan tâm, liên lạc, thăm viếng người tân tòng này cũng như gia đình họ, khích lệ và giúp họ hội nhập vào gia đình giáo xứ, nhất là sẵn sàng và kịp thời giúp đỡ khi họ gặp khó khăn, khủng hoảng, đặc biệt là thời gian đầu. Cũng nên có các sáng kiến phù hợp với hoàn cảnh thực tế để giúp người tân tòng được bồi dưỡng thêm đức tin và gia đình họ được thăng tiến, mà các việc mục vụ dành cho gia đình trẻ được nói trên rất cần được áp dụng.

Thực tế cho thấy có nhiều người tân tòng sống đức tin rất vững mạnh và gia đình họ rất hạnh phúc, lại còn đưa được những người thân ngoại giáo của mình trở lại đạo. Ngược lại, cũng có nhiều trường hợp rất bi đát, không những người tân tòng không còn sống đức tin mà còn ngăn cản người phối ngẫu thực hành đạo, không cho con cái được rửa tội, thậm chí còn có những hành động xúc phạm niềm tin nữa. Những kết quả ấy, phụ thuộc phần nhiều ở việc chuẩn bị hôn nhân, và hơn thế, là sự đồng hành của các vị mục tử, của cộng đoàn và những người liên hệ.

b. Đồng hành với gia đình có hôn nhân hỗn hợp

Hôn nhân hỗn hợp hay dị tín là hôn nhân giữa một người Công giáo và một người không Công giáo nhưng đã được rửa tội thành sự trong Giáo hội Chính thống, Tin Lành hoặc Anh giáo. Hôn nhân này dường như còn khá ít tại Việt Nam, nhất là tại Giáo phận Vinh. Tuy nhiên, trong xu thế mở cửa và tình trạng di dân đang phổ biến như hiện nay, những cuộc hôn nhân như thế sẽ ngày càng nhiều. Việc những người thuộc các Giáo hội Kitô khác nhau kết hôn không tạo nên một ngăn trở không thể vượt qua đối với hôn nhân, khi hai người đóng góp cho nhau những gì đã lãnh nhận nơi Giáo hội mình và học hỏi lẫn nhau cách sống trung thành với Đức Kitô. Tuy nhiên, không được coi thường những khó khăn trong các cuộc hôn nhân hỗn hợp. Những khó khăn này xuất phát từ sự chia rẽ của các Kitô hữu đến nay vẫn chưa được giải quyết. Đôi phối ngẫu có nguy cơ phải cảm nghiệm cách bi thảm sự chia rẽ này ngay trong gia đình mình. Những khác biệt về đức tin, quan niệm về hôn nhân, não trạng về tôn giáo… có thể tạo thành cội nguồn cho những căng thẳng trong hôn nhân, nhất là đối với vấn đề giáo dục con cái. Từ đó có thể đưa đến một nguy cơ là sự dửng dưng về tôn giáo, thậm chí là mất đức tin.[3] Vì thế, Giáo hội phải sẵn sàng để tiếp nhận, giúp đỡ cũng như đồng hành với những gia đình này.

Tại một số nơi, nhờ cuộc đối thoại đại kết, một số cộng đoàn Kitô hữu đã tổ chức sinh hoạt mục vụ chung cho các đôi hôn nhân hỗn hợp. Sinh hoạt này nhằm để giúp cho các đôi phối ngẫu biết sống hoàn cảnh đặc biệt của mình dưới ánh sáng đức tin; đồng thời giúp họ vượt thắng những căng thẳng giữa các bổn phận của họ đối với nhau và đối với các cộng đoàn Giáo hội mình. Sinh hoạt này cũng khuyến khích làm tăng trưởng những gì đối với họ là chung trong đức tin, và tôn trọng những gì còn làm họ chia rẽ.[4]

Đối với chúng ta, ngoài việc chuẩn bị chu đáo, cử hành cách sốt sắng và đúng với thể thức luật định, và tiếp nhận, hội nhập gia đình họ như chúng ta vẫn làm với các gia đình trẻ và các gia đình có người phối ngẫu tân tòng trên đây, thì trong việc đồng hành, phải luôn nhắc nhở phía Công giáo những bổn phận xuất phát từ đức tin, về tất cả những gì liên hệ đến việc tự do thể hiện đức tin, và từ đó nghĩa vụ phải làm hết sức để lo cho con cái được rửa tội và giáo dục trong đức tin Công giáo. Dĩ nhiên, “khi người phối ngẫu Công giáo đã cố gắng hết sức, mà con cái họ vẫn không được thanh tẩy và nuôi dạy trong Hội thánh Công giáo, thì người ấy sẽ không bị giáo luật khiển trách,”[5] nhưng những người đồng hành cũng phải nỗ lực bao nhiêu có thể để giúp họ chu toàn bổn phận này. Đặc biệt, chúng ta phải làm sao để họ có một sự hiểu biết chín chắn hơn về đức tin và để thực hành đức tin cách tốt đẹp hơn, bằng cách trở nên một nhân chứng đáng tin thực sự trong lòng gia đình, nhờ đời sống và nhờ phẩm chất tình yêu họ dành cho bạn mình và con cái. Chúng ta cũng phải để ý đến những khó khăn đặc thù nằm trong các tương quan vợ chồng có thể có về tất cả những gì liên hệ đến sự tôn trọng tự do tôn giáo.[6]

Giáo hội không tìm cách ép buộc bất cứ ai phải theo niềm tin của mình. Giáo hội tôn trọng những quyết định tự do và hiểu biết của bên không Công giáo để sống theo niềm tin của họ. Trong ý nghĩa này, người phối ngẫu Công giáo phải tìm những cơ hội để làm chứng cho người bạn đời thấy được kho tàng quý giá của niềm tin Công giáo. Cha xứ cần lưu tâm cho các bậc cha mẹ về trách nhiệm giáo dục tôn giáo và luân lý cho con cái của họ dưới ánh sáng Lời Chúa và giáo huấn của Giáo hội. Một giáo lý được suy gẫm kỹ lưỡng có thể đem lại ánh sáng cho người bạn đời không Công giáo cũng như củng cố đức tin của người bạn đời Công giáo, có thể đưa đôi bạn đến chỗ hiệp nhất yêu thương. “Phép rửa duy nhất của hai người và động năng ân sủng sẽ cung cấp cho đôi bạn nền tảng và động lực để giúp họ diễn tả được sự hiệp nhất trong lãnh vực các giá trị luân lý và tâm linh.”[7]

Chúng ta phải giúp cho đôi bạn phát huy tối đa điểm mạnh này; nếu biết tận dụng tốt, đây có thể là chìa khóa để giữ hôn nhân bền chặt. Cũng không phải là điều dễ dàng, nhưng với việc có những điểm chung trong đức tin, chúng ta có nhiều hy vọng hơn. Trong việc đồng hành, chúng ta cần giúp cho gia đình họ biết cách cầu nguyện chung, và có thể cầu nguyện chung với họ, nhất là những lúc đến thăm viếng gia đình, những dịp quan trọng của gia đình. Cũng cần hội nhập họ vào đời sống cộng đoàn, từ những sinh hoạt như bác ái, từ thiện đến những việc chung khác, rồi đến sinh hoạt phượng tự. Các gia đình chung quanh và những người trong họ tộc cần liên đới với gia đình họ để họ không bao giờ cảm thấy lạc lõng, nhất là người phối ngẫu không Công giáo. Một cách tiệm tiến, có thể giúp họ chuyển dịch dần dần từ “xa lạ, khác biệt” đến “người nhà.” Và như thế, đây thực sự là một cơ hội truyền giáo. Dĩ nhiên, điều quan trọng là làm cho gia đình họ được hạnh phúc, mà trong đó, việc cùng niềm tin tôn giáo là một yếu tố quan trọng.

c. Đồng hành với các gia đình có hôn nhân dị giáo

Một trường hợp nan giải và đang phổ biến hiện nay đó là hôn nhân dị giáo, cũng gọi là hôn nhân khác đạo, tức là hôn nhân giữa một người Công giáo và một người chưa được rửa tội: hoặc đã theo một tôn giáo ngoài Kitô giáo hoặc không theo tôn giáo nào. Đây không chỉ là vấn đề của cá nhân đôi bạn, mà còn là vấn đề đức tin, vấn đề của Giáo hội, và vì thế, Giáo hội phải có bổn phận đồng hành với họ, nhất là con cái mình trong việc gìn giữ đức tin và hạnh phúc gia đình. Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm và khó khăn, nếu không được quan tâm đúng mức ngay từ đầu, thì những hệ quả xấu xảy đến là điều khó tránh khỏi. Đứng trước thực tế ngày càng gia tăng của thể dạng hôn nhân này, chúng ta được “đòi hỏi khẩn thiết phải có chương trình chăm sóc mục vụ đặc biệt tùy theo bối cảnh xã hội và văn hóa khác nhau.”[8]

Trước hết, chúng ta đừng quá bi quan nhưng hãy có hy vọng. Đành rằng, thực tế cho thấy một xác suất khá lớn về những bất ổn, xung đột, thậm chí là đổ vỡ hạnh phúc nơi những gia đình này, hay tệ hơn nữa là mất đức tin, lạc đức tin nơi các cuộc hôn nhân khác đạo. Tuy nhiên, vẫn có đó những chứng từ tích cực nơi những cuộc hôn nhân bền vững. Và biết đâu, đây là một cơ hội, như thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa đã kêu gọi anh em sống bình an với nhau! Chị là vợ, biết đâu chị chẳng cứu được chồng? Hay anh là chồng, biết đâu anh chẳng cứu được vợ?” (1 Cr 7,15-16). Nếu việc đồng hành của Giáo hội được thực hiện cách khôn ngoan và kiên nhẫn, cộng với sự nỗ lực liên lỉ của các đương sự, hy vọng đó là một khả thể.

Trong hành trình tiến tới hôn nhân, ngoài việc chuẩn bị một cách kỹ lưỡng cho người phối ngẫu Công giáo để họ chu toàn được những đòi hỏi của đức tin và những điều luật buộc khi kết hôn với người khác đạo, cũng như để có thể vượt qua được những khó khăn vốn chồng chất trong thực tế của cuộc hôn nhân này, thì cũng nên có những buổi gặp gỡ với gia đình của người này để huấn giáo cho họ biết những bổn phận phải có đối với gia đình mới. Đặc biệt, nên có những gặp gỡ, chuẩn bị những gì cần thiết cho người phối ngẫu không Công giáo, và cả gia đình của người này nữa, ít là nói cho họ biết về những đòi hỏi của Giáo hội về hôn nhân, về đức tin cũng như về con cái. Cũng nên tìm biết những lý do khiến họ không thể trở lại đạo, và có thể lý giải cho họ những thắc mắc, những bất đồng về quan điểm niềm tin. Một lý do phổ biến hiện nay tại Việt Nam, nhất là tại Giáo phận Vinh là hiểu lầm về việc thờ kính ông bà tổ tiên, với quan niệm: “theo đạo là bỏ ông bà,” khiến cho nhiều người không trở lại đạo vì còn phải mang trọng trách “tộc trưởng” hay “con một.” Nếu hóa giải được hiểu lầm này thì hành trình truyền giáo đã có thể bắt đầu. Một viễn ảnh gia đình cùng chung niềm tin Công giáo là điều đáng mong ước.

Cùng với đó, gia đình, những người liên hệ và cộng đoàn không những tiếp nhận trong tinh thần yêu mến, cầu nguyện với họ và cho họ mà còn phải đồng hành, nâng đỡ gia đình ấy vượt qua những khác biệt, những khó khăn trong cuộc sống. Dẫu người ngoại đạo chưa thuộc về Giáo hội nhưng gia đình họ là thành phần của Giáo hội, là con cái của Giáo hội, cần được Giáo hội chăm sóc. Vì thế, việc liên đới với gia đình ấy, đón nhận và quan tâm đến họ là bổn phận được đòi hỏi khẩn thiết hơn so với các gia đình khác. Thường thì, khi lập gia đình với người khác đạo, người phối ngẫu Công giáo cảm thấy mình trở nên xa cách với mọi người trong giáo xứ. Cần vượt thắng tâm trạng ấy, bởi lẽ, đây chính là lúc họ cần gắn bó hơn với giáo xứ để được nâng đỡ và cầu nguyện. Phải thắt chặt tình thân với một nhóm gia đình trong giáo xứ, luôn gần gũi nhau như những người bạn nghĩa thiết; phải tận dụng những cơ hội sẵn có trong tình bạn để mối quan hệ giữa gia đình nhỏ của mình với cộng đoàn được tự nhiên. Sự gắn bó ấy sẽ là yếu tố quan trọng nâng đỡ và đồng hành với đôi bạn trong cuộc sống gia đình.[9]

Chúng ta cũng cần phải làm sao gây được mối thiện cảm của người không Công giáo, giúp người ấy cảm thấy mình là một phần của cộng đoàn, và từng bước hội nhập họ vào đời sống chung. Hơn nữa, ta phải cố gắng liên lỉ để giúp người phối ngẫu Công giáo sống đức tin qua việc chu toàn cách tốt nhất bổn phận hằng ngày, sống các giá trị hôn nhân và gia đình Công giáo, để chiếu tỏa hương thơm Tin mừng ngay trong gia đình. Chính đời sống tốt lành thấm đượm niềm vui Tin mừng ấy sẽ là lời chứng sống động và hùng hồn về chân lý Phúc âm, để qua đó, “chồng ngoại đạo được thánh hóa nhờ vợ, và vợ ngoại đạo được thánh hóa nhờ người chồng có đạo” (1 Cr 7,14).

Các mục tử và các tác viên mục vụ gia đình cũng như các đoàn thể trong giáo xứ cần năng thăm viếng các gia đình này, mang đến cho họ sự gần gũi, khích lệ và sự trợ giúp cần thiết, nhất là những khi có bất đồng, hiểu lầm và mâu thuẫn. Cần khuyến khích người phối ngẫu Công giáo và con cái năng tham dự thánh lễ, cầu nguyện chung với nhau, cho nhau, cho gia đình và cho người không Công giáo. Nếu được, nên khuyên gia đình họ cùng đi dự lễ, dành thời gian cho nhau, hướng dẫn họ cùng hồi tâm cuối ngày với nhau, từ đó, dần dần tập quen việc cầu nguyện chung trong gia đình. Tổ liên gia cũng có thể giúp họ việc này khi đến đọc kinh chung nơi gia đình họ. Việc lập bàn thờ, treo ảnh tượng thánh trong nhà là một việc cần thiết, nhưng không hoàn toàn nhất thiết khi mà vì nó có thể gây ra những mâu thuẫn nghiêm trọng. Đừng để việc lành thánh đó nên cớ cho xung đột. Hãy “lập bàn thờ” trong tâm hồn và thể hiện niềm tin bằng lối sống!

Hạnh phúc của gia đình mới còn phụ thuộc ở gia đình, họ tộc hai bên của đôi bạn nữa. Chính vì thế, trong việc đồng hành, chúng ta còn phải quan tâm đến gia đình bố mẹ của đôi bạn, nhất là bên không Công giáo; để họ thấy được vẻ đẹp của đức tin, nhờ đó, họ yên tâm và vun đắp thêm cho gia đình đôi bạn, và biết đâu, họ có thể đón nhận Tin mừng ở một tương lai hy vọng nào đó.

Tóm lại, bên cạnh tình yêu, niềm tin tôn giáo là một trong những yếu tố quan trọng đối với đời sống hôn nhân và gia đình, bởi vì tôn giáo không chỉ ảnh hưởng đến lối suy nghĩ, cách hành xử, mà còn ảnh hưởng đến những chọn lựa trước các vấn đề của cuộc sống, nhất là trong việc giáo dục con cái. Do khác biệt quan điểm một cách sâu xa như thế, những cuộc hôn nhân khác đạo thường gặp nhiều trở ngại, khó đạt được hạnh phúc. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn.” Nếu cùng chung một niềm tin tôn giáo, gia đình sẽ có được một nền tảng vững chắc hơn. Lúc ấy, người bạn đời cũng là người bạn đạo, cả hai cùng mang một chí hướng, đó là xây dựng tổ ấm gia đình hạnh phúc trong yêu thương và hiệp nhất.

Tuy nhiên, lý tưởng ấy không phải lúc nào cũng có được, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Những cuộc hôn nhân với người tân tòng, và đặc biệt là với người khác tôn giáo, dù là hôn nhân hỗn hợp hay dị giáo, đều ẩn chứa những khó khăn và phức tạp, đặt ra cho Giáo hội nhiều thách đố trong mục vụ. Tuy nhiên, trong mọi hoàn cảnh, Giáo hội là Mẹ luôn được mời gọi sẵn sàng ôm ấp, đỡ nâng con cái mình, và đồng hành với gia đình họ là một cách thế cụ thể. Sẽ không có một giải pháp chung để áp dụng cho tất cả mọi trường hợp. Những gì được trình bày trên đây cũng chỉ là các gợi ý, để rồi nhờ phân định mục vụ từng hoàn cảnh, các tác viên đồng hành có thể đưa ra được những giải pháp khả dĩ, phù hợp. Nhờ vậy, các gia đình có thể vượt qua được những khó khăn, thách đố trong hành trình sống của mình.

2. Đồng hành với các gia đình có hoàn cảnh khó khăn

a. Với các gia đình gặp khó khăn về vấn đề con cái

“Việc có con là kết quả và là dấu chỉ của tình yêu vợ chồng.”[10] Sự hiện diện của những đứa con, dẫu sao vẫn là một dấu hiệu của một gia đình sung mãn, tiếp nối liên tục của chính lịch sử cứu độ từ đời này qua đời khác.[11] Tuy nhiên, thực tế là nhiều đôi vợ chồng không thể có con, chúng ta biết điều đó khiến họ đau khổ.[12] Chúng ta phải quan tâm mục vụ cách đặc biệt và tế nhị đối với các đôi vợ chồng này. Thật vậy đó là một thử thách và một đau khổ liên tục cần được cảm thông và thẩm định cách xứng hợp.

Cộng đoàn tín hữu được mời gọi soi sáng và đỡ nâng các đôi vợ chồng này trong đau khổ, bằng cách giúp họ khám phá trong hoàn cảnh khổ đau ấy “cơ hội để có được một sự tham dự đặc biệt vào thập giá Chúa, cội nguồn của sự sinh sản thiêng liêng.”[13] Cộng đoàn cần gần gũi để giúp họ nhận ra rằng mình cũng có thể sống một ‘sự sinh sản thiêng liêng’ chân thực, bằng cách tiếp tục sinh ra tình yêu trong đời sống lứa đôi và lớn lên trong tình yêu đối với mọi người. Chúng ta cần ý thức rằng ngay cả trong những trường hợp không thể có con, đời sống vợ chồng vẫn giữ nguyên tất cả các giá trị của nó, để mời gọi các đôi bạn này mở rộng tình yêu của mình ra khỏi liên hệ máu mủ và dấn thân vào những công việc phục vụ quan trọng cho sự sống của nhân vị, như việc nhận con nuôi, những công việc giáo dục đủ loại, việc trợ giúp cho những gia đình khác, những trẻ em nghèo hoặc tàn tật.[14] Điều này biểu lộ một sự phong nhiêu đặc biệt của kinh nghiệm hôn nhân.[15] Ngoài ra, Giáo hội cũng cần khuyến khích và đồng hành với các đôi vợ chồng này trong khả thể chữa trị, cũng như hối thúc sự phát triển của y khoa, để giúp đôi bạn có thể truyền sinh trong sự tôn trọng phẩm giá con người và phẩm giá của thai nhi, không dùng đến việc thụ thai nhân tạo mà tự nó bất hợp pháp và nghịch với phẩm giá của việc truyền sinh và tình yêu hôn nhân.[16]

Có những gia đình đau khổ vì không có con, nhưng cũng có những gia đình rất vất vả vì nhiều con cái. Họ gặp khó khăn trong đời sống kinh tế, nhất là khó đảm bảo cho con cái được học hành đầy đủ. Đành rằng, “chính lương tâm trong sáng của đôi bạn là mực thước chỉ dạy họ quyết định về số con của mình,”[17] nhưng các mục tử cũng đừng quên khuyên các vợ chồng cân nhắc số con phù hợp với hoàn cảnh để đảm bảo tương lai cho chúng. Cùng với đó, các mục tử và cộng đoàn, trong mức độ có thể, hỗ trợ gia đình về đời sống kinh tế và việc giáo dục con cái.

Tùy điều kiện của từng địa phương để có những sáng kiến phù hợp. Chúng ta có thể thiết lập quỹ khuyến học để cổ võ việc học văn hóa, tưởng thưởng những em có thành tích cao và tương trợ những em có hoàn cảnh khó khăn; cũng có thể tổ chức các lớp học từ thiện với sự tham gia của các sinh viên trong giáo xứ hay các thiện nguyện viên nhằm nâng cao kiến thức cho các em; tổ chức các lớp/khóa học kỹ năng sống; tổ chức các chương trình bổ ích giúp các em tránh xa các tệ nạn, rèn luyện nhân cách… Đó sẽ là những phương thế hữu hiệu để đồng hành với các em, và qua đó, cũng là đồng hành với các gia đình trong việc giáo dục con cái.

Quả thực, một trong những thách đố nền tảng mà các gia đình ngày nay phải đối diện là việc giáo dục con cái, việc này càng khó khăn và phức tạp hơn nữa do thực tế văn hóa hiện nay và ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thông. Trong bối cảnh ấy, Giáo hội cần thấy mình có một vai trò quí giá là nâng đỡ các gia đình, khởi đi từ việc khai tâm Kitô giáo, xuyên qua các cộng đoàn luôn sẵn sàng đón tiếp. Bằng việc cộng tác với các bậc cha mẹ qua hoạt động mục vụ thích hợp, Giáo hội hỗ trợ họ trong việc chu toàn sứ mạng giáo dục của mình.[18]

Trong việc đồng hành này, chúng ta cũng cần gần gũi và quan tâm cách thận trọng đến các gia đình đang sống trong khó khăn và đau khổ vì có những đứa con hư hỏng. Ngoài việc lưu tâm tạo ra môi trường tốt như cách thế đề phòng những tệ nạn, thì cộng đoàn và những người liên hệ cần tránh thái độ loại trừ, xa lánh vì cho là gương xấu, nhưng hãy quan tâm các gia đình này bằng sự bao dung, liên đới và yêu thương. Chúng ta cần gần gũi, lắng nghe, khuyến khích và giúp đỡ họ trong việc giáo dục những đứa con hư hỏng. Đối với những gia đình đã được chuẩn bị tốt hơn, cần đề nghị cho họ những hình thức dấn thân trong các hiệp hội, đoàn thể…[19]

Có những gia đình đau khổ và tuyệt vọng vì xấu hổ và tệ hơn nữa, bị lên án, xa lánh, khi có đứa con gái “lầm lỡ.” Cũng có những trường hợp “bị gạt ra bên ngoài” bởi “lệ làng” vốn đã trở thành “truyền thống tốt đẹp” từ xa xưa; lại cũng không thiếu những gia đình bất mãn, chối bỏ cả đức tin hay phải rời đi nơi khác sinh sống vì không thể chịu nổi sự kỳ thị của cộng đồng… Cần lắm một thái độ bao dung, cảm thông, vượt lên trên những quy tắc, những luật lệ tuy rất tốt đẹp nhưng đôi khi quá lạnh lùng, cứng nhắc, thậm chí là tàn nhẫn, gây ra nhiều bi lụy. “Lầm lỡ” là điều chẳng ai muốn, và dù gì cũng đã xảy ra, chính các đương sự cũng đã phải chịu nhiều thiệt thòi… thì đừng làm cho vấn đề thêm nghiêm trọng, thêm bi đát nữa. Đành rằng, lên án một điều tiêu cực, răn đe để ngăn chặn một gương xấu là điều cần thiết, nhưng đừng để một sự xấu bị đẩy quá xa, kéo theo những sự xấu khác nữa, cần phải nghĩ đến những hậu quả phía sau một sự kiện. Thực tế mục vụ luôn cho thấy một sự giằng co giữa lề luật và tình yêu, giữa quy tắc và lòng thương xót, nhưng thiết tưởng, cần có phân định mục vụ dựa trên lòng cảm thương với “tội nhân,” theo gương Chúa Giêsu (x. Ga 8,2-11). Hơn nữa, người mục tử và cộng đoàn nên đồng hành với họ, để hiểu, để giúp đỡ cách khôn ngoan và tế nhị, để họ có thể tái hòa nhập, vượt qua được những khó khăn trước mắt và hướng về tương lai tốt đẹp hơn. Tưởng cũng cần chú trọng đến vấn đề giáo dục lương tâm, để giúp các bạn trẻ có chọn lựa và quyết định đúng đắn. Nhiều khi, văn hóa đám đông khiến người ta chỉ cảm thấy có tội khi bị người khác phát hiện, họ mất đi cảm thức xấu hổ trước lương tâm của mình.

Cũng thật đáng khâm phục những gia đình sẵn sàng yêu thương đón nhận thử thách cam go khi có đứa con tật nguyền. Các gia đình này cống hiến cho Giáo hội và xã hội một chứng từ rất quí giá về lòng trung tín đối với hồng ân sự sống, dù phải gặp nhiều khó khăn, thách đố sâu sắc và bất ngờ, có thể làm đảo lộn sự quân bình, các ước mong và kì vọng. Các mục tử cùng với cộng đoàn Kitô hữu cần có những hành động và ngôn ngữ, những hình thức phù hợp và sự gần gũi để cảm thông, liên đới với gia đình trong hành trình đón nhận và chăm sóc những đứa con ấy. Cần giúp họ hiểu rằng những người khuyết tật là một quà tặng cho gia đình và là cơ hội để lớn lên trong tình yêu, sự hiệp nhất và giúp đỡ lẫn nhau.[20]

Chúng ta cũng cần xem xét hoàn cảnh của các gia đình sống kinh nghiệm trong nhà mình có người mang xu hướng đồng tính, một kinh nghiệm không dễ dàng đối với cha mẹ cũng như con cái. Chúng ta phải lưu ý rằng mọi người, không phân biệt khuynh hướng tính dục, phải được tôn trọng theo phẩm giá của họ và phải được đón nhận với lòng kính trọng, hết sức tránh mọi dấu hiệu kì thị bất công và nhất là mọi hình thức gây hấn và bạo lực. Còn đối với gia đình thì cần bảo đảm một sự đồng hành trân trọng, để người có xu hướng đồng tính có thể nhận được sự trợ giúp cần thiết, để họ hiểu và thi hành trọn vẹn thánh ý Thiên Chúa trên cuộc đời của họ. [21]

b. Đồng hành với các gia đình có người bệnh tật hoặc qua đời

Có những gia đình rơi vào tình trạng khốn khổ vì có thành viên đau bệnh, bị khuyết tật hoặc tai nạn; đôi khi họ trở nên túng quẫn và cảm thấy mình lẻ loi, bị bỏ rơi, chán nản và thất vọng. Hơn ai hết, Giáo hội phải chăm sóc các gia đình này với tinh thần người mẹ, qua việc thăm viêng, đồng hành và giúp đỡ. Đó có thể là sự thăm hỏi, động viên, khích lệ những gia đình đang khổ sở, mệt mỏi vì phải chăm sóc người bệnh lâu ngày; là sự nâng đỡ, an ủi những gia đình đang hoảng loạn, buồn đau vì có thành viên gặp bệnh nan y hay tai nạn thập tử nhất sinh; là sự chung tay giúp đỡ những gia đình đang ngược xuôi vay mượn, thậm chí có nguy cơ khánh kiệt vì kinh phí tốn kém để chữa chạy bệnh tật cho người thân… Những lời cầu nguyện dành cho họ thật quan trọng, những thăm viếng, an ủi, động viên cũng thật cần thiết, nhưng những nghĩa cử cụ thể như trợ giúp vất chất trong cơn nguy cấp lại càng quý giá và cần kíp biết chừng nào! Sự liên đới như thế không chỉ giúp cho gia đình ấy có thể sớm vượt qua cơn khốn khó mà còn bồi đắp thêm tình hiệp nhất trong cộng đoàn, trở thành một chứng từ truyền giáo.

Cũng tương tự với các gia đình có người già yếu. Trong những vùng miền công nghiệp hóa cao, nơi mà con số những người cao tuổi có chiều hướng gia tăng trong khi số sinh sụt giảm, thì những người này có nguy cơ bị coi như một gánh nặng. Đàng khác, những chăm sóc mà các cụ cần lại thường tạo nên một thử thách cam go cho những người thân. Vì thế, Giáo hội cần phải đồng hành, giúp đỡ các gia đình đang chăm sóc cho các thành viên cao tuổi và bệnh tật.[22] Cách riêng, những ai không có thân nhân để chia sẻ và để nhận được tình âu yếm, nên được cộng đồng Kitô hữu giúp đỡ với sự lưu ý và sẵn sàng đặc biệt, nhất là khi họ nghèo túng.[23]

Đối với những gia đình đang sống trong hoàn cảnh túng nghèo, Giáo hội cũng phải đặc biệt quan tâm để thông cảm, an ủi, đón nhận họ, tránh áp đặt lên họ đủ thứ luật lệ, nghĩa vụ, như những tảng đá đè bẹp, chỉ khiến người ta cảm thấy bị xét đoán và bỏ rơi bởi chính người Mẹ vốn được mời gọi bày tỏ cho họ thấy lòng thương xót của Thiên Chúa. Làm như thế, thay vì cống hiến năng lực chữa trị của ân sủng và ánh sáng của Tin mừng, thì lại biến nó thành một thứ “giáo điều,” “những viên đá giết người để ném vào người khác.”[24] Hơn nữa, cộng đồng Kitô hữu cần có những sáng kiến cụ thể, tùy từng trường hợp, để giúp họ vượt lên hoàn cảnh nghèo đói. Chẳng hạn, thiết lập quỹ tín dụng, quỹ bác ái giúp hoặc cho các gia đình nghèo vay vốn để làm kinh tế; định hướng và chỉ dẫn cho họ những ngành nghề có thể làm được ngay tại địa phương, hay trong mức độ có thể, triển khai các mô hình kinh tế, tạo công ăn việc làm… Các mục tử, với sự trợ giúp của các chuyên viên, các đoàn thể, nhất là ban Bác ái (Caritas), có thể thực hiện được những chương trình hỗ trợ này.

Có những lúc cuộc sống gia đình bị thách thức do cái chết của một người thân. Chúng ta không nên bỏ lỡ dịp mang ánh sáng đức tin đến để đồng hành với gia đình đang đau khổ trong những lúc này. Bỏ quên một gia đình đang đau đớn vì có người thân qua đời là một sự thiếu sót lòng thương xót, là bỏ mất cơ hội cho mục vụ, và với thái độ này các cánh cửa có thể sẽ khép lại với chúng ta khiến cho không thể làm bất cứ điều gì khác để loan báo Tin mừng.[25] Quả thật, cái chết của những người thân yêu, nhất là đứa con và đặc biệt hơn nữa là người phối ngẫu đã từng chia sẻ với mình biết bao điều, để lại một nỗi đau khó tả; khi ấy thời gian như ngừng lại, vực thẳm như mở ra nuốt lấy cả quá khứ và tương lai. Và có khi đau đớn đến nỗi người ta còn lên án Thiên Chúa, nổi giận với Người nữa.[26]

Thường thì sự thương tiếc người thân qua đời kéo dài một thời gian, và khi chúng ta muốn đồng hành với gia đình họ, cần thích ứng với nhu cầu của từng giai đoạn. Toàn bộ lộ trình này cần được khơi gợi qua các vấn đề: về nguyên nhân của cái chết, về những gì lẽ ra đã có thể làm được, về việc người ấy đã sống như thế nào trước khi chết… Qua một hành trình chân thành và kiên nhẫn của cầu nguyện và của giải thoát nội tâm, bình an sẽ trở lại. Đến một lúc nào đó trong quãng thời gian tang tóc, ta cũng cần giúp họ khám phá ra rằng cũng có biết bao nhiêu người đã mất người thân yêu nhưng họ vẫn còn có một sứ mạng để hoàn thành, và rằng không ích gì việc kéo dài nỗi đau khổ như thể muốn tỏ lòng tôn kính người quá cố. Cùng với đó, chúng ta cũng hãy giúp họ xác tín niềm tin rằng người chết không bị hủy diệt hoàn toàn, Chúa Phục Sinh sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta… Như vậy, qua sự đồng hành, chúng ta không những có thể ngăn không cho cái chết làm nhiễm độc cuộc sống gia đình của người quá cố, làm tình cảm của họ thành trống rỗng, xô họ rơi vào khoảng không tăm tối nhất; nhưng còn có thể củng cố cho họ niềm hy vọng đức tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa.[27]

c. Đồng hành với các gia đình di dân

Hiện tượng di dân không phải là vấn đề mới lạ, nó đã có từ khi con người xuất hiện trên trái đất và vẫn tiếp diễn dọc theo lịch sử loài người. Với xu thế đô thị hoá, công nghiệp hoá và toàn cầu hoá, cùng với thị trường kinh tế cởi mở tự do và cơ cấu hành chính, kỹ nghệ quốc tế… tỷ lệ di dân này đang tăng nhanh từng ngày. Tại Việt Nam, ngoài những cuộc di cư lớn sau hai biến cố 1954 và 1975 có tính cách định cư, thì trong những năm gần đây, di cư đang trở thành một hiện tượng nở rộ: từ nông thôn lên thành phố hay từ miền này đến vùng khác để học tập, làm việc, đến di cư ra nước ngoài theo hình thức du học hoặc xuất khẩu lao động…

Quả thực, những cuộc di dân hiện nay đang là một dấu chỉ của thời đại mà chúng ta phải đối diện và tìm hiểu với tất cả những hệ quả nặng nề của nó trên đời sống gia đình. Do đó, trong việc đồng hành với người di dân đòi hỏi phải có một mục vụ chuyên biệt dành riêng cho các gia đình di dân và cho cả những thành viên của gia đình đang còn ở lại nơi nguyên quán của họ nữa.[28]

Với các gia đình di dân từ nơi khác đến, kinh nghiệm cho thấy rằng, họ sống giữa ngưỡng cửa của hai thế giới: một cũ, một mới; một quen, một lạ. Họ sống trong một thế giới nhưng mang trong mình một thế giới khác. Nhiều khi họ cảm thấy lạc lõng, cô đơn và rồi có xu hướng sống khép kín, xa cách, khiến cho khó khăn thêm chồng chất. Vì thế, việc cần làm trước hết là phải đón tiếp, liên đới và hội nhập họ vào đời sống cộng đoàn. Việc này phải được thực hiện trong sự tôn trọng nền văn hóa của họ, tôn trọng việc huấn luyện đức tin và nhân bản nơi họ xuất thân, tôn trọng gia sản tâm linh phong phú của các nghi lễ và truyền thống của họ, cũng như nhờ đến một sự chăm sóc mục vụ đặc biệt.[29]

Có đôi khi, tâm lý “ở độ” của các gia đình di dân, hay cảm giác tự ty khi thấy mình chưa đóng góp được gì cho cộng đoàn sở tại khiến họ không dám tìm đến với các vị mục tử cũng như tham gia sinh hoạt với cộng đồng nơi đó. Cũng có khi quan điểm mục vụ nặng quản trị trở thành một thứ rào cản, để rồi người mục tử chỉ quan tâm những “con chiên thuộc ràn mình” mà thôi. Lại cũng có những khi vì khác biệt văn hóa hay những lý do tế nhị khác mà cộng đoàn sở tại không sẵn sàng đón nhận “các gia đình của nơi khác…” Từ đó, các gia đình di dân như bị bỏ rơi, dần dần xa đời sống cộng đoàn và những hệ lụy bắt đầu này sinh, nhất là về đức tin. Chính vì thế, trong mức độ có thể, người mục tử và cộng đoàn, với sự năng động của các đoàn hội, cần tìm kiếm họ, mời gọi và tạo những điều kiện tốt nhất để họ hội nhập. Cũng cần có một sự đồng hành dành cho họ trong cuộc sống thường ngày, qua việc thăm viếng, hỗ trợ họ lúc gặp khó khăn, giúp đỡ họ những nhu cầu thiết yếu, nhất là về đời sống thiêng liêng, giáo dục đức tin cho con cái và vấn đề hôn nhân. Nếu việc cư trú của họ có tính cách ổn định thì nên mời gọi họ cũng như giúp họ những thủ tục cần thiết để có thể nhập tịch vào địa phương, nhờ đó họ được chăm sóc cách đầy đủ hơn. Trên thực tế, có những gia đình thích sống tình trạng “vô chính phủ” vì sợ những gánh nặng bổn phận, và rồi không muốn gia nhập vào một cộng đoàn nào. Vì thế, trong việc đồng hành, cần phải giúp họ phân định để thấy ý Chúa muốn cho gia đình họ trong hoàn cảnh hiện tại, thấy được phải chọn lựa làm sao giữa những quyền lợi và bổn phận cần có một khi nhập tịch, đồng thời cũng phải liệu làm sao giảm bớt những rảo cản không đáng có.

Với các gia đình đang tạm rời đi nơi khác sinh sống, làm kinh tế, cộng đoàn và nhất là người mục tử cũng cần phải đồng hành với họ trong mức độ có thể. Chẳng hạn, những liên lạc, thăm hỏi thường xuyên để họ nhận thấy mình luôn luôn “thuộc về” và được quan tâm, đặc biệt là khi gia đình có những biến cố lớn; những lo liệu để họ có được một sự đồng hành và chăm sóc mục vụ tốt nhất tại nơi cư trú… Cũng nên quy tụ các gia đình và các cá nhân sống gần nhau tại địa bàn họ cư trú như hình thức hội đồng hương chẳng hạn, để họ có thể tự giúp nhau, giữ mối liên lạc với cộng đoàn quê hương, và các mục tử cũng dễ dàng đồng hành, thăm viếng họ.

Tình trạng di dân cũng đẩy nhiều gia đình vào hoàn cảnh éo le: vợ chồng xa cách nhau dẫn đến nhạt nhòa tình cảm, ngoại tình và rồi dẫn đến đổ vỡ; con cái thiếu vắng cha hoặc mẹ, thậm chí thiếu vắng cả hai, để rồi lớn lên trong tình trạng thiếu quân bình và thiếu nền tảng giáo dục gia đình; có những đứa con rời xa môi trường gia đình từ khá sớm, du nhập những lối sống thiếu lành mạnh nơi môi trường công nghiệp đã để lại những tiếng nấc nghẹn cho cha mẹ, những điều tiếng cho gia đình…  Đó là thực sự là những thách đố lớn cho công tác mục vụ hiện nay. Nó đòi hỏi một sự tế nhị, đầy khôn ngoan với những sáng kiến phù hợp.

Đó cũng có thể là việc chăm sóc đời sống thiêng liêng cho họ; khuyến khích họ giữ mối liên lạc thường xuyên với nhau nhờ các phương tiện công nghệ đang rất hữu dụng hiện nay; mời gọi họ tham gia các sinh hoạt cộng đồng, gia nhập các hội đoàn đạo đức, hội đoàn tông đồ tại nơi mình đang sinh sống… Cũng cần có những cuộc tĩnh tâm, những buổi gặp gỡ để giúp họ vượt qua được những khó khăn có thể xảy đến trong hoàn cảnh mình. Đặc biệt, cần giúp đỡ họ trong việc giáo dục đức tin, giáo dục nhân bản cho con cái. Phải có những sáng kiến để giúp cho họ, dù có cách xa nhau, vẫn giữ được tinh thần gia đình qua việc cầu nguyện, qua sự liên lạc, “gặp gỡ” gần gũi; và để họ thấy mình vẫn thuộc về cộng đoàn, xứ sở của mình.

Quả thực, di dân đang là vấn đề nhiêu khê, nhức nhối hiện nay cho xã hội và Giáo hội, bởi nó đã để lại nhiều hệ lụy nặng nề cho các cá nhân cũng như cho các gia đình. Chính vì thế, Giáo hội, hơn bao giờ hết và hơn ai hết, được mời gọi cách khẩn thiết đồng hành với các gia đình di dân, giúp họ vượt qua những thách đố, gìn giữ và củng cố hạnh phúc gia đình. Có như vậy, mới mong đẩy lùi tình trạng gia đình đổ vỡ, vợ chồng ly dị, ly thân… vốn đang rất phức tạp hiện nay.

3. Đồng hành với gia đình khủng hoảng, ly thân, ly dị

a. Đồng hành với các gia đình đang gặp khủng hoảng

Có thể nói rằng cuộc sống gia đình luôn chất đầy những khó khăn và khủng hoảng. Đó có thể là khủng hoảng của buổi ban đầu, khi vợ chồng trẻ cần tập thích nghi với những khác biệt của nhau và khi họ mới tách ra khỏi gia đình cha mẹ; hoặc khủng hoảng khi họ mới có con kéo theo những thách đố mới về mặt cảm xúc; khủng hoảng khi nuôi dạy con nhỏ đòi hỏi phải thay đổi tập quán sống; khủng hoảng khi con bước vào tuổi dậy thì, đòi hỏi mất rất nhiều sức lực, mất sự ổn định và đôi khi căng thẳng với nhau; khủng hoảng gây ra bởi hoàn cảnh khi phải chăm sóc cha mẹ già, người thân đau bệnh đòi hỏi họ phải hiện diện, quan tâm nhiều hơn và đòi phải có những quyết định khó khăn; khủng hoảng bởi những hoàn cảnh gay go gây ra lo sợ, cảm giác tội lỗi, bị trầm cảm hay mệt mỏi có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự kết hiệp vợ chồng… Đặc biệt là khủng hoảng bởi những tình huống bất ngờ, những nghi kỵ, ghen tương, những mâu thuẫn, xung đột, những sai lỗi… có thể ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình đòi hỏi một hành trình của thấu hiểu, tha thứ và hòa giải.[30]

Trong một cuộc khủng hoảng không được giải quyết, điều chịu tổn hại nhất là sự thông giao giữa hai người. Như thế, người mà trước đây là “người tôi yêu” sẽ trở thành “người bạn đời của tôi,” rồi chỉ còn là “người bố hoặc người mẹ của các con tôi,” và cuối cùng trở thành là một người xa lạ. Sự tan vỡ xảy đến như một hệ quả tất yếu sau một chuỗi các “sự kiện,” họ căng thẳng và kết án lẫn nhau.[31] Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy rằng, với một sự trợ giúp thích đáng và với những nỗ lực hòa giải, một tỉ lệ lớn các khủng hoảng hôn nhân được khắc phục cách thỏa đáng.

Biết tha thứ và cảm nhận mình được thứ tha là một kinh nghiệm cơ bản trong cuộc sống gia đình. Nghệ thuật vất vả của việc hòa giải đòi hỏi sự hỗ trợ của ơn thánh, sự hợp tác quảng đại của cộng đồng, của những người thân hữu, và đôi khi cũng cần một sự giúp đỡ bên ngoài và chuyên nghiệp.[32] Thực tiễn cho thấy rằng trong các hoàn cảnh khó khăn hoặc nguy kịch, phần đông người ta không nhờ đến các trợ giúp của mục vụ đồng hành, vì họ không cảm thấy được sự thông cảm, gần gũi, hay không thực tế, cụ thể. Bởi vậy, giờ đây, chúng ta nên tìm cách tiếp cận với họ bằng cái nhìn nhạy cảm hơn với những gánh nặng của đau đớn và thống khổ họ phải chịu.[33] Điều ấy đòi hỏi một sự gần gũi, cảm thông và tế nhị trong việc đồng hành.

Để đối phó với một khủng hoảng, người ta cần phải hiện diện với nó. Điều đó thật khó, vì đôi khi họ tự cô lập để tránh nói ra điều mình cảm nhận, họ thu mình bằng một lối sống khép kín. Trong những lúc như vậy, người đồng hành cần tạo ra những cơ hội để họ trải lòng, cần giúp họ nhận diện được những lý do khủng hoảng, khám phá những nguyên nhân ẩn kín nhất trong tâm hồn họ và đối diện với chúng.[34]

Cũng cần giúp họ hiểu rằng là con người thì sai lỗi là điều khó tránh khỏi, vì thế, đừng ai có tham vọng người phối ngẫu phải hoàn hảo. Cần gạt sang một bên những ảo tưởng và chấp nhận người kia như con người thực của họ: còn chưa kiện toàn, đang trong hành trình được mời gọi để lớn lên.[35] Đó là cái nhìn của tình yêu bao dung và trưởng thành. Tình yêu ấy cũng bao hàm cả học biết “thương lượng,” một thực hành tình yêu dành cho nhau, vì nó là một sự đan kết giữa cống hiến và từ bỏ vì lợi ích của gia đình. Trong mọi sự, làm sao để đừng có kẻ thắng người thua nhưng là cả hai cùng thắng.[36] Điều này đòi hỏi phải có sự tha thứ, yếu tố không thể thiếu của tình yêu. Tình yêu luôn bao hàm một ý thức thương cảm sâu xa dẫn tới việc chấp nhận người khác ngay cả khi người ấy hành động khác với kỳ vọng của mình.[37] Một cái nhìn nhân hậu cho phép chúng ta không dừng lại quá nhiều trên những giới hạn của người khác, và như thế, chúng ta có thể khoan dung với họ và hiệp nhất với nhau trong một kế hoạch chung, bất chấp những khác biệt.[38]

Đối thoại là một cách thức ưu việt và thiết yếu để sống, bày tỏ và làm triển nở tình yêu trong đời sống hôn nhân và gia đình.[39] Điều này càng cần thiết khi gia đình rơi vào khủng hoảng; tuy nhiên, nó lại rất khó thực hiện trong thời điểm nhạy cảm này. Do đó, cần có những người đồng hành làm trung gian để họ có thể đối thoại với nhau, bởi có đối thoại thì họ mới hiểu nhau, tìm ra giải pháp và tìm một hướng đi chung. Dĩ nhiên rằng sự hợp nhất mà chúng ta cần tìm không phải là sự đồng dạng, nhưng là một sự “hợp nhất trong đa dạng,” hay “sự khác biệt được hòa giải.” Nhiều sự bất đồng giữa vợ chồng thực sự không phải là những chuyện quan trọng. Phần lớn chúng là những chuyện vặt vãnh, nhưng điều làm thay đổi bầu khí chính là cách nói hay thái độ của người nói.[40] Tuy nhiên, nếu nó không được giải quyết sớm, thì sẽ tích tụ thành những vấn đề nghiêm trọng.

Lịch sử của một gia đình được đánh dấu bởi nhiều loại khủng hoảng, nhưng nó cũng góp phần tạo nên vẻ đẹp kịch tính của gia đình. “Lửa thử vàng, gian nan thử đức.” Vì thế, các đôi vợ chồng cần được đồng hành làm sao để hiểu rằng việc thắng vượt một khủng hoảng không làm cho mối tương quan của họ kém mãnh liệt, nhưng cải thiện, làm ổn định và làm cho “rượu hiệp nhất” được chín muồi hơn. Mỗi khủng hoảng là một thực tập giúp cho cuộc sống chung thêm mạnh mẽ, hay ít nhất tìm thấy được một ý nghĩa mới của kinh nghiệm hôn nhân. Dĩ nhiên, chúng ta phải giúp đỡ các gia đình ấy để họ không được nản lòng trước một khúc quanh dốc xuống, một sự suy thoái không tránh được hay một tình trạng tầm thường phải chịu đựng. Khi hôn nhân được coi là một nhiệm vụ gồm cả việc phải vượt qua các trở ngại thì mỗi cuộc khủng hoảng được xem như một cơ hội để có thể “uống với nhau thứ rượu ngon hơn.”[41]

Quả thực, việc đồng hành của các vị mục tử, của cộng đoàn, của các gia đình lân cận, của thân hữu với các đôi vợ chồng trong hoàn cảnh này là rất cần thiết để họ có thể chấp nhận các cuộc khủng hoảng có thể xảy đến, đối diện với chúng và “dành cho chúng một chỗ trong đời sống gia đình.” Các cặp vợ chồng từng trải và được huấn luyện cũng cần sẵn sàng đồng hành với các vợ chồng khác trong việc khám phá này, làm sao để các cuộc khủng hoảng không làm họ kinh hãi cũng không đẩy họ đến chỗ có quyết định nông nổi. Mỗi khủng hoảng đều ẩn chứa một tin vui mà ta cần biết lắng nghe bằng lỗ tai của tâm hồn.[42]

Ngược lại, một cuộc khủng hoảng không được đón nhận, không được đồng hành để vượt qua, nó sẽ bị chồng thất thêm nghiêm trọng, và sự đổ vỡ cũng như những hệ quả khác như ly thân, ly dị xảy ra là điều dễ hiểu.

b. Đồng hành với các gia đình ly thân, ly dị

Hôn nhân bất khả phân ly là chân lý Giáo hội luôn gìn giữ và cố gắng hết mức có thể để nó được thể hiện. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, xét thấy nhân phẩm của các đương sự và thiện ích của con cái họ cần được bảo vệ, đòi hỏi Giáo hội phải đưa ra một giới hạn chắc chắn trước những đòi hỏi quá đáng của người kia, trước một bất công nghiêm trọng, trước sự bạo hành hoặc thường xuyên thiếu tôn trọng từ phía người kia. Khi đó, ly thân được chọn lựa như một giải pháp không thể tránh khỏi.[43] Đôi khi điều đó trở nên cần thiết xét về mặt luân lý, khi đó là cách để giải thoát người phối ngẫu yếu thế hơn, hoặc tránh cho những đứa con nhỏ khỏi bị thương tổn nghiêm trọng nhất do sự chuyên chế và bạo hành, sự khinh khi và bóc lột, sự thiếu quan tâm và thờ ơ. Dĩ nhiên, việc ly thân chỉ có thể được xem như phương dược cuối cùng, sau khi mọi cố gắng hợp lý khác đều tỏ ra vô hiệu.[44]

Điều này đặt ra một thách đố mục vụ, đòi hỏi sự cố gắng nhiều hơn nữa của Giáo hội. Thực tế cho thấy cần phải có một sự phân định đặc biệt để đồng hành với các gia đình trong tình trạng này. Cần đón tiếp và trân trọng nỗi đau khổ của những người được xem là nạn nhân. Tha thứ cho điều bất công mình phải chịu thì không dễ chút nào, nhưng ân sủng sẽ giúp người ấy có thể tha thứ với tiến trình thời gian. Do đó, cần có một mục vụ hòa giải và trung gian thông qua các trung tâm tham vấn chuyên biệt cũng như các đoàn thể và các tác nhân mục vụ gia  đình.[45]

Chúng ta cần nhìn nhận giá trị của việc làm chứng về lòng trung thành, nhất là về phía người phối ngẫu vô tội, bằng việc chấp nhận đau khổ mà hoàn cảnh mới đã mang lại. Sự cô đơn và nhiều khó khăn khác nữa thường là số phận dành cho người phối ngẫu bị phân ly. Trong trường hợp đó, cộng đồng Giáo hội phải nâng đỡ người ấy hơn bao giờ hết, phải đem lại cho họ sự quí mến, liên đới cảm thông và giúp đỡ cụ thể để người ấy có thể trung thành ngay cả trong tình cảnh khó khăn của mình; phải giúp người ấy biết vun trồng sự tha thứ mà tình yêu thương Kitô giáo đòi hỏi và biết luôn sẵn sàng nối lại cuộc sống vợ chồng trước kia.[46]

Sự chung thủy vợ chồng luôn luôn là giá trị được Giáo hội theo đuổi. Tuy nhiên, thực tế vẫn có nhiều trường hợp vợ chồng đã đi đến quyết định ly hôn, đành rằng, điều này chỉ hợp pháp ở tòa đời. Với Giáo hội, trong mọi trường hợp, việc ly dị chỉ được xem như là một sự ly thân, chứ không bao giờ xé bỏ được dây hôn phối.[47] Vì thế, Giáo hội phải giúp cho đôi bạn trong trường hợp này đừng bao giờ để mình bị lôi cuốn vào sự kết hợp mới, nhưng hãy cố gắng chu toàn các bổn phận gia đình và trách nhiệm của người Kitô hữu cũng như trung thành với giao ước hôn nhân vốn không thể xé bỏ. Để làm được điều ấy, cần thiết phải có một sự đồng hành sát sao, một sự trợ giúp liên lỉ của Giáo hội.

Trường hợp một người phối ngẫu bị bó buộc phải chịu ly dị, vì ý thức rõ tính bất khả phân ly của dây hôn phối thành sự, người ấy không để mình bị lôi cuốn vào một sự kết hợp mới, nhưng chỉ ra sức chu toàn các bổn phận gia đình và các trách nhiệm Kitô hữu của mình, lúc đó, chứng tá của họ về sự trung thành và về sự ăn khớp của mình với đời sống Kitô hữu có một giá trị thật đặc thù đối với thế giới và Giáo hội hơn bao giờ hết. Giáo hội cần đem lại cho họ một sự trợ giúp đầy khích lệ ưu ái và cho họ tham dự các bí tích. Đặc biệt, họ cần được khích lệ tìm thấy trong Thánh Thể lương thực nâng đỡ tình trạng hiện tại.

Cộng đoàn địa phương và các mục tử cũng cần đồng hành với những người này một cách ân cần, nhất là khi họ có con cái hoặc lâm cảnh nghèo túng. Một thất bại hôn nhân trở nên chấn động và đau lòng hơn trong trường hợp của người nghèo, vì họ không có nhiều nguồn lực để định hướng lại cuộc sống. Một người nghèo khi không còn môi trường gia đình yên ổn thì gặp nguy cơ bị bỏ rơi và mọi thứ rủi ro tổn hại sự toàn vẹn của nó gấp bội.[48]

Chia ly vợ chồng là nỗi đau không chỉ của các đương sự, của con cái họ mà còn là nỗi đau của Giáo hội sau khi đã nỗ lực với hết mọi giải pháp để hòa giải mà không mang lại kết quả. Tuy nhiên, cả khi sự thể không mong muốn nảy xảy ra thì Giáo hội vẫn tiếp tục bước đi trong niềm hy vọng với gia đình của họ. Đức Thánh cha Bênêđictô XVI  đã có những lời thật tâm tình:

“Tôi muốn nói đôi lời với các tín hữu đã có những kinh nghiệm đau thương về sự đổ vỡ và chia ly, mặc dù họ vẫn chấp nhận các giáo huấn của Giáo hội về gia đình. Tôi muốn anh chị em hiểu rằng Giáo hoàng và Giáo hội nâng đỡ anh chị em trong cuộc chiến đấu của anh chị em. Tôi khuyến khích anh chị em hãy gắn bó với cộng đoàn và tôi tha thiết hy vọng rằng giáo phận của anh chị em có những nỗ lực thích hợp để đón nhận và đồng hành với anh chị em.”[49]

Lm. Phaolô Lê Văn Hùng

[1] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 67.
[2] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 77.
[3] X. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 1634.
[4] X. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 1636.
[5] Thomas P. Rausch, Đạo Công giáo Thiên Niên kỷ thứ III, (Hà Nội, Nxb.Tôn giáo, 2010), 202.
[6] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 78.
[7] Gioan Phaolô II, Familiaris Consortio, số 78.
[8] Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 248.
[9]X. Fx. Nguyễn Văn Thượng, “Thoáng nhìn về Thực tế Hôn nhân Khác đạo,” 2017, http://giaophanmytho.net, truy cập 15/3/2018.
[10] Gioan Phaolô II, Familiaris Consortio, số 28.
[11] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 14.
[12] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 178.
[13] Bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị Donum Vitae, (Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, 2006), mục II, số 8.
[14] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 14; Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 178-180; Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 1654.
[15] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, 82.
[16] X. Âugustinô Nguyễn Văn Dụ, Hướng dẫn Mục vụ Gia đình, 154-155.
[17] Phaolô VI, Thông điệp Humanae Vitae, số 10.
[18] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 84-85.
[19] X. Âugustinô Nguyễn Văn Dụ, Hướng dẫn Mục vụ Gia đình, 157.
[20] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 47.
[21] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 250.
[22] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 48.
[23] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 254.
[24] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 49.
[25] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 253.
[26] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 254.
[27] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 255-256.
[28] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 46.
[29] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 46.
[30] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 235-236.
[31] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 233.
[32] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 236.
[33] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 234.
[34] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 234.
[35] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 218.
[36] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 220.
[37] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 92.
[38] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 100-102.
[39] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 136.
[40] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 139.
[41] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 232.
[42] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 232.
[43] Với các lý do được nói đến ở Bộ Giáo luật 1983, điều 1151-1153.
[44] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 241.
[45] X. Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 242.
[46] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 83.
[47] X. Âugustinô Nguyễn Văn Dụ, Hướng dẫn Mục vụ Gia đình, 247.
[48] Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 83.
[49] X. Bênêđictô XVI, “Gia đình trong Ý định của Thiên Chúa,” 2012, Giuse Nguyễn dịch, http://hdgmvietnam.org.